Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Hữu cú vô cú - 有句無句 của Trần Nhân Tông

Thì ra thời Trần Nhân Tông người ta đã cãi nhau thế nào là CÓ thế nào là KHÔNG rất ghê. Ghé qua các Forum Phật giáo trên mạng thấy nhiều nơi treo hẳn cái bảng: "Miễn bình luận về Bát Nhã", "Mọi bàn luận về Bát Nhã sẽ bị xóa". Hi hi ... ai muỗn cãi nữa nhào zô :)


Chân dung Phật hoàng Trần Nhân Tông trong tranh Túc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ được vẽ năm 1360

有句無句 Hữu cú vô cú -
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt

有句無句,Hữu cú vô cú,
藤枯樹倒。Đằng khô thụ đảo.
幾個衲僧,Kỷ cá nạp tăng,
撞頭嗑腦。Chàng đầu hạp não,

有句無句,Hữu cú vô cú,
體露金風。Thể lộ kim phong.
兢伽沙數,Căng già sa số.
犯刃傷鋒。Phạm nhẫn thương phong.

有句無句,Hữu cú vô cú
立宗立旨。Lập tông lập chỉ.
打瓦鑽龜,Đả ngõa toàn quy,
登山涉水。Đăng sơn thiệp thủy.

有句無句,Hữu cú vô cú,
非有非無。Phi hữu phi vô.
刻舟求劍,Khắc chu cầu kiếm,
索驥按圖。Sách ký án đồ.

有句無句,Hữu cú vô cú,
互不回互。Hỗ bất hồi hỗ.
笠雪鞋花,Lạp tuyết hài hoa,
守株待兔。Thủ chu đãi thố.

有句無句,Hữu cú vô cú,
自古自今。Tự cổ tự kim.
執指忘月,Chấp chỉ vong nguyệt,
平地陸沉。Bình địa lục trầm.

有句無句,Hữu cú vô cú,
如是如是。Như thị như thị.
八字打開,Bát tự đả khai,
全無巴鼻。Toàn vô ba tị.

有句無句,Hữu cú vô cú,
顧左顧右。Cố tả cố hữu.
阿刺刺地,A thích thích địa,
鬧聒聒地。Náo quát quát địa.

有句無句,Hữu cú vô cú,
忉忉怛怛。Điêu điêu đát đát.
截斷葛藤,Tiệt đoạn cát đằng,
彼此快活。Bỉ thử khoái hoạt.
----

DỊCH NGHĨA

Câu hữu câu vô,
Như cây đổ, dây leo héo khô.
Mấy gã thầy tăng,
Đập đầu mẻ trán.

Câu hữu câu vô,
Như thân thể lộ ra trước gió thu.
Vô số cát sông Hằng,
Phạm vào kiếm, bị thương vì mũi nhọn.

Câu hữu câu vô,
Lập công phái, ý chỉ.
Cũng là dùi rùa, đập ngói,
Trèo núi lội sông.

Câu hữu câu vô,
Chẳng phải hữu, chẳng phải vô,
Khác nào anh chàng khắc mạn thuyền mò gươm,
Theo tranh vẽ đi tìm ngựa ký.

Câu hữu câu vô,
Tác động qua lại với nhau.
Nón tuyết giày hoa,
Ôm gốc cây đợi thỏ.

Câu hữu câu vô,
Từ xưa đến nay,
Chỉ chấp ngón tay mà quên vầng trăng,
Thế là chết đuối trên đất bằng.

Câu hữu câu vô,
Như thế như thế!
Tám chữ mở ra rồi,
Hoàn toàn không còn điều gì lớn nữa.

Câu hữu câu vô,
Quay bên phải, ngoái bên trái.
Thuyết lý ầm ĩ,
Ồn ào tranh cãi.

Câu hữu câu vô,
Khiến người rầu rĩ.
Cắt đứt mọi duyên quấn quýt như dây leo,
Thì hữu và vô đều hoàn toàn thông suốt

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

Bức tranh quá khứ qua góc nhìn phân kỳ


Liên hệ với nguồn sách địa chí hiện còn như Ô Châu cận lục, Phủ biên tạp lục, Đại Nam nhất thống chí và các tài liệu ký sự mới phát hiện như Quảng Nam phủ tập ký sự, các tư liệu gia tộc như gia phổ, trước thuật…, người đời sau có thể hình dung phần nào diện mạo lịch sử, xã hội, phong tục của nhiều thế kỷ trước ở vùng Trung Trung Bộ hiện nay. Tất cả các nguồn sử liệu đó cùng các thư tịch ngoài nước của Trung Hoa và người Pháp đã giúp Hồ Trung Tú dựng lại bức tranh quá khứ theo cách riêng của mình: Lý giải lịch sử qua góc nhìn phân kỳ, với cuốn “Có 500 năm như thế - bản sắc Quảng Nam từ góc nhìn phân kỳ lịch sử” (*) vừa xuất bản.


Cách phân kỳ lịch sử Nam tiến của Hồ Trung Tú khác với các sử gia Việt trước đó. Ông chú ý đến một số thời điểm đặc biệt và khai thác ý nghĩa của nó: đưa ra một cách phân kỳ để thử xác định ý nghĩa lịch sử và dấu ấn của mỗi giai đoạn mà nó để lại trên mỗi tiến trình lịch sử, qua đó có thể ít nhiều hiểu được, và thử dựng lại những gì đã xảy ra trong suốt 500 năm (từ đám cưới Huyền Trân (năm 1306) đến năm 1802 khi Gia Long lên ngôi. Tác giả đã có những đóng góp mới trong việc “xác định mốc thời gian của mỗi giai đoạn” (tr.11, Sđd) và nói rõ phần đóng góp của mình trong cách phân kỳ: “…Trước đây người ta chỉ nêu lên các mốc thời gian của mỗi sự kiện mà ít để ý đến quãng thời gian giữa hai sự kiện, trong khi điều đó là vô cùng quan trọng để sự tiếp thu, tiếp biến, giao lưu văn hóa diễn ra rồi hình thành và cố định một tính cách bền chắc, không chịu biến đổi trong các giai đoạn sau”.

Trong cuốn sách của mình, Hồ Trung Tú chưa một lần sử dụng từ “ky mi” mà sử xưa dùng để chỉ vùng đất “được cai trị lỏng lẻo” là Thuận Hóa và Quảng Nam (trước khi chúa Nguyễn Hoàng vào Nam), nhưng trong nhận xét về giai đoạn 300 năm (1306-1600) rõ là tác giả đã chú ý đến cái điều mà các sử gia trước đó chưa kịp thể hiện: “300 năm không chính quyền trên một vùng đất nhiều dân tộc mà các dân tộc này đã từng đánh nhau hoặc nhà nước của các dân tộc này đã từng đánh nhau chí tử suốt nhiều trăm năm trước đó. Điều gì đã xảy ra trong suốt 300 năm ấy?” (tr.12). Trên cơ sở 300 năm đó, tác giả đã mở rộng cái nhìn phân kỳ của mình đến 1802 (năm vua Gia Long lên ngôi) để đi đến khái quát “đã có 500 năm đằng đẵng để hoàn thành một cuộc hòa nhập”. Và những mốc của cuộc “hòa nhập khó diễn tả hết” ấy được nêu lên như những “lát cắt lịch sử” mà trong đó lát cắt 1671 phải được ghi nhận như là một phát hiện độc đáo của tác giả. Chính lát cắt “lũy Trường Dục” khiến “Trong, Ngoài bất tương thông” đó đã là cơ sở cho Đàng Trong hình thành một bản sắc rạch ròi tách biệt khỏi những ảnh hưởng của Đàng Ngoài để tự thân hòa nhập với văn hóa bản địa trong quá trình mở rộng về phương Nam. Lát cắt đó cùng những lát cắt lịch sử khác trong khoảng 500 năm đã làm nền cho sự phân kỳ; giúp Hồ Trung Tú có cái nhìn thấu suốt và biện chứng để từ giải các hiện tượng văn hóa, xã hội độc đáo của xứ Đàng Trong - mà thổ âm Quảng Nam là một ví dụ.

Có lẽ, sau 40 năm kể từ khi cuốn “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam” của Bình Nguyên Lộc ra đời, chưa có một cuốn sách nào thuộc dạng này đã truyền một cảm hứng mạnh mẽ cho người đọc đến vậy. Cảm hứng nhà văn đã khiến cho cuốn sách trở nên hứng thú; nhưng cảm hứng đó cũng là một nhược điểm đối với việc khai thác một vấn đề có tầm “luận án” như thế này. Hồ Trung Tú đã đi vào con đường mà Kim Định, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Văn Xuân… đã từng đi: đó là “trực nhận” và “tiên nghiệm” trước khi cố gắng chứng minh đầy đủ.Dù tự nhận mình người “không chuyên về ngôn ngữ học” và cũng khiêm tốn đưa ra một số dẫn chứng vừa đủ trong rất nhiều sách nghiên cứu về ngôn ngữ mà chắc chắn tác giả phải đọc qua, nhưng những giả thuyết về “nguồn gốc bản sắc tiếng nói từng khu vực xứ Quảng” cùng những giả thiết về “nguồn gốc của những vùng lõm ngôn ngữ đặc biệt” như Cao Lao Hạ, Mỹ Lợi trong ngôn ngữ khu vực Bắc Trung Bộ đã thật sự hấp dẫn người đọc. Những phát hiện và giả thuyết trên giúp tác giả - bất chấp sự dè dặt thông thường - mạnh dạn nêu lên vấn đề sự tự hòa nhập và hòa tan của một bộ phận dân tộc, một nền văn minh với một dân tộc, một nền văn minh khác trong điều kiện đặc thù của “500 năm như thế!”. Tất cả các cố gắng của Hồ Trung Tú từ việc đưa ra các kiến giải về “Vấn đề thế hệ ”, “Vấn đề địa giới”, vấn đề “Người Chàm ở lại”, “Giọng nói người Quảng Nam” rõ là nhằm chứng minh cho điều quan trọng đã nói trên. Dẫn chứng được vận dụng trong thư tịch và từ kết quả điền dã vừa đủ để giúp tác giả chứng minh cho những gì mình đã phát hiện và nêu giả thuyết. 
PHÚ BÌNH