----
TT - Lý giải về hiện tượng những đảo thổ ngữ lạ giữa
một cộng đồng có giọng nói phổ thông, nhiều người thường lý giải là do
nước uống, do thổ nhưỡng, do môi trường khắc nghiệt, vùng đầu sóng ngọn
gió, ăn to nói lớn...
Một số lý giải khác, như trường hợp làng Mỹ Lợi, thì
cho rằng người Quảng đã ra Huế định cư và bảo lưu giọng Quảng của mình
suốt 4-5 trăm năm nay (những họ lâu đời nhất ở Mỹ Lợi có gia phả đều đã
16-17 đời). Thế nhưng, rõ ràng những cách trả lời này mang nhiều kiến
giải của dân gian hơn là khoa học. Trong khi khoa học, tức các nhà ngôn
ngữ trên thế giới, đã lý giải hiện tượng này một cách đầy đủ và khá sâu
sắc.
| Cuốn sách đoạt giải thưởng Sách hay 2012 của tác giả Hồ Trung Tú |
Do một bộ phận dân cư đã thay đổi ngôn ngữ
Quan điểm quan trọng nhất giúp ta hiểu hiện tượng này
là của Meillet, nhà ngôn ngữ học người Pháp: “Khi một ngôn ngữ biến đổi
nhiều, tạo ra một bộ mặt mới khác với trước đó thì rất có thể là có một
bộ phận dân cư đã thay đổi ngôn ngữ”. Ở VN, theo GS ngôn ngữ học Hoàng
Thị Châu, các thành phần dân cư đã thay đổi ngôn ngữ của mình để nói
tiếng Việt là những người Việt gốc Hoa, gốc Khmer và gốc Chăm”(Hoàng Thị
Châu, Tiếng Việt trên các miền đất nước - Phương ngữ học, NXB KHXH
1989, trang 229). Theo chúng tôi, ở miền Trung còn phải kể đến các tộc
người thiểu số khác nữa như Rục, Tà Ôi, Bru-Vân Kiều, Ka Tu, Cuối, Mọn,
Đan Lai - Ly Hà, Tày Poọng...
Ví dụ, trong thực tế, điều bất cứ ai cũng có thể dễ
dàng nhận thấy là người Ấn nói tiếng Anh rất khác với người Thái nói
tiếng Anh và cũng khác xa với người Việt, Nhật, người Hoa, người Pháp
nói tiếng Anh. Những nhóm dân cư mà GS Hoàng Thị Châu đề cập đã nói
tiếng Việt bằng giọng nói của họ và đã sinh ra những vùng thổ ngữ khác
nhau.
Thực tế có nhiều yếu tố để tạo thành một thổ ngữ. Như
trường hợp trên là một, ngoài ra ta còn có các trường hợp người Chăm
tiếp thu tiếng Việt ở người có giọng Hải Dương, Thái Bình sẽ khác rất
nhiều với việc họ học nói tiếng Việt với người Thanh Hóa và sẽ càng khác
nếu học nói tiếng Việt với người Nghệ An. Rõ ràng điều đó tạo nên những
vùng thổ ngữ khác nhau.
Ngôn ngữ tiếng Việt là ngôn ngữ thanh điệu, chưa kể
điệu tính bổng trầm của mỗi vùng thì việc nói đủ sáu dấu thanh là điều
khó với bất cứ ai học nói tiếng Việt. Chính vì vậy chúng ta thấy với
người nước ngoài họ sẽ không nói được nên bỏ bớt đi một số dấu thanh. Ở
một số làng tại Nghệ An, Hà Tĩnh người ta chỉ nói ba thanh nên nghe rất
lạ tai, có thể chính là lý do này. Ở Quảng Nam vào đến Phú Yên thì các
dấu thanh tương đối đủ, nhưng điểm đặc biệt là sự biến đổi của nguyên
âm, đầu têu nhất là mọi âm/a/ đều bị biến thành/oa/ (ở Phú Yên thì/a/
thành như/e/ và Quảng Ngãi, Bình Định là những bước trung gian) nên kéo
theo hàng loạt biến đổi khác như: Choa ơi choa, anh Boa ảnh câu con cóa,
ảnh để trên hòn đóa con gòa hén en (Cha ơi cha, anh Ba ảnh câu con cá,
ảnh để trên hòn đá con gà hắn ăn).
Loạt bài về tiếng nói lạ trên Tuổi Trẻ vừa qua không đề
cập đến làng Cao Lao Hạ ở bờ nam sông Gianh, tỉnh Quảng Bình. Đây là
một làng ngôn ngữ vì không một nhà ngôn ngữ nào không một lần đến đó để
nhận thấy những biến âm kỳ lạ khi cư dân làng này nói tiếng Việt. Trong
sách Có 500 năm như thế, chúng tôi đã làm một kết nối: Thì ra làng này
chính là thành Khu Túc của nước Chiêm Thành xưa. Thành này đã hoàn toàn
thuộc về Đại Việt từ năm 1069 nhưng người dân ở đó vẫn bảo lưu giọng nói
của mình và tập nói tiếng Việt theo giọng người Khu bốn, tức chỉ có bốn
thanh, và ở đó họ chỉ nói còn ba thanh, không có dấu hỏi, dấu ngã và
dấu sắc, tất cả dấu hỏi, dấu ngã và dấu sắc đều được nói như dấu nặng.
Chính vì vậy đã tạo nên một ốc đảo ngữ âm lạ.
Ở làng Mỹ Lợi cũng vậy, nhà nghiên cứu Chu Sơn nói làng
Mỹ Lợi nói không hẳn ra giọng Quảng vì không nói “mô, tê, răng, rứa” mà
nói “đâu, kìa, sao, vậy”, nếu vậy thì đây chính là nét để nhận ra giọng
Quảng Ngãi. Ở Quảng Nam có rất nhiều làng nằm giữa một vùng Quảng Nam
nhưng lại không nói “mi, tau, mô, tê, răng, rứa” mà nói “mầy, tao, đâu,
kìa, sao, vậy” giống Quảng Ngãi như Phong Lệ, Thanh Quýt, Mã Châu, Phú
Nham, Tây Gia, Phú Bình... Cứ như theo ngữ điệu mà xét thì ta thấy giọng
nói các làng này khá gần với Quảng Ngãi. Tại sao lại có hiện tượng
những ốc đảo giọng Quảng Ngãi, Bình Định ở giữa Quảng Nam hay Huế?
Từ thổ ngữ nhận ra lịch sử
Nhà báo, nhà nghiên cứu Hồ Trung Tú - Ảnh: Thảo Nguyên
|
Để đồng thuận được điều này chúng ta cần thống nhất
thời điểm hình thành vùng phương ngữ Nam Hải Vân này. Sách Ô Chân Cận
Lục của Dương Văn An, được viết năm 1553, đã phân biệt vùng Thuận Hóa
(tức các tỉnh từ Quảng Bình đến một phần tỉnh Quảng Nam nay) có hai
giọng nói là giọng Châu Hoan và giọng Châu Hóa. Giọng Châu Hoan được xác
định là giọng của người Khu 4 cũ (Vinh đến Huế nay), vậy giọng Châu Hóa
là gì nếu không phải là giọng Quảng Nam? Nhìn lại lịch sử, vùng đất
Quảng Nam có người Việt đặt chân đến định cư bắt đầu từ năm 1306 và chắc
chắn giọng nói vùng này cũng hình thành từ đó do cuộc biến đổi từ một
bộ phận người Chăm đã thay đổi ngôn ngữ, tức người Chăm nói tiếng Việt
mà thành. (Xem thêm từ sách Có 500 năm như thế - Hồ Trung Tú).
Trong suốt 700 năm qua, có nhiều làng người Chăm ở
Quảng Bình đến Quảng Nam vẫn bảo lưu giọng nói của mình và chỉ chịu
chuyển sang nói tiếng Việt vào các thế kỷ sau, thậm chí có làng, nhất là
các làng biển, mãi đến thế kỷ 18 họ mới hoàn toàn chuyển hẳn sang nói
tiếng Việt. Nó cho ta một hình dung về chuyện người Chăm chuyển sang nói
tiếng Việt sớm muộn khác nhau mà ra những vùng thổ ngữ khác nhau.
Mô hình này cho ta hình dung câu trả lời hiện tượng
những làng nói giọng lạ, mà loạt bài về “Lạ kỳ tiếng Việt đó đây” đã đề
cập. Nếu bỏ công truy tìm ở các làng thổ ngữ này chắc chắn ta sẽ tìm
thấy nguồn gốc xa xưa của một tộc người nào đó đã từ bỏ ngôn ngữ của
mình để nói tiếng Việt, và điều này mở ra những khả năng nghiên cứu bản
sắc địa phương lý thú hơn rất nhiều.
Nếu chấp nhận mô hình này, chúng ta sẽ mặc nhiên có
được một công cụ quan trọng để nhìn vào các bước đi của lịch sử trong
trường hợp đã mất hết các sử liệu, tức giúp ta hình dung về những cuộc
chuyển động, va chạm của các tộc người, sự tiếp biến của các nền văn hóa
đã từng xảy ra cách nay vài trăm đến hàng ngàn năm trước.
Theo lịch sử Nam tiến, người Quảng Ngãi phải nói tiếng
Việt muộn hơn người Quảng Nam và người Bình Định thì càng muộn hơn nữa,
người Phú Yên rõ ràng chỉ chịu chuyển sang nói tiếng Việt sau năm 1611
(theo chúng tôi, ở đây phải cuối thế kỷ 17 này mới hoàn toàn chuyển sang
tiếng Việt). Nếu giọng Quảng Nam do người Chăm nói tiếng Việt của người
Hải Dương, Thanh Hóa mà thành thì có thể giọng Bình Định, Phú Yên là do
người Chăm nói tiếng Việt theo giọng người Quảng Nam mà có (giai đoạn
này do chiến tranh Trịnh - Nguyễn nên không có Nam tiến nữa)!
|
HỒ TRUNG TÚ
Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.
Trả lờiXóatks tác giả, một cuốn sách rất hay
Trả lờiXóaHay, ở vùng tôi các con sông nhỏ nhưng người ta nói phải có người phiên dịch
Trả lờiXóaNhư vậy những người Việt đó có một số không phải người Việt nguyên thủy? Nhìn gương mặt, dáng dấp, giọng nói ta có thể đoán họ thuộc gốc Chàm, Miên, Hoa hay đã lai.
Trả lờiXóaNhìn dáng dấp không biết được đâu. Mà thật ra nhân chủng, bộ gene không quan trọng bằng văn hóa. Cứ nhìn các bạn trẻ qua Mỹ diện mồ côi từ bé không một khái niệm Việt Nam hay Campuchia trong đầu tư sẽ hiểu văn hóa, bản sắc mới là điều đáng để nói. Những người Mỹ da đen họ đâu có khái niệm gì về châu phi sao cứ buộc ta đây cần phái biết ai là Chàm ai là Hoa ai là Việt? Sự ứng xử của mình với chung quanh thuộc về đâu mới là điều đáng nói.
Xóa