Lịch sử Nam tiến của người Việt Nam
trải dài suốt từ thời nhà Lý đến các vua Nguyễn; các năm 1306, 1471 thường được
nhắc tới như chỉ là những cột mốc đánh dấu cái dòng chảy rất đều, không ngừng
nghỉ của các đoàn người Nam tiến. Thực ra nếu nhìn kỹ vào từng giai đoạn ta sẽ
thấy cái dòng chảy ấy không đều như đã nghĩ. Nó có những lúc dữ dội để chiếm
hữu, lúc lắng lại để định hình, lúc thì nếp ăn nếp ở ngôn ngữ phong tục thiên
về Chàm, lúc thì chuyển hẳn sang Việt. Ở đây chúng tôi xin đưa ra một cách phân
kỳ để thử xác định ý nghĩa và dấu ấn của mỗi giai đoạn mà nó để lại trên mỗi
tiến trình lịch sử, qua đó có thể ít nhiều hiểu được, và thử dựng lại những gì
đã xảy ra trong suốt 500 năm (1306 đám cưới Huyền Trân đến 1802 khi Gia Long
lên ngôi) dài dằng dặc ấy.
Ví dụ như giai đoạn lịch sử này,
quan hệ Việt - Chàm có điều gì đó rất lạ, nó vừa thân thiết như người nhà lại
vừa dữ dội như hai kẻ thù không đội trời chung: Năm 1370, sau cuộc loạn Dương
Nhật Lệ, mẹ Nhật Lệ trốn sang Chiêm Thành, bày tỏ tình hình suy yếu của nước
Đại Việt và xui Chế Bồng Nga sang đánh Việt. Thế nhưng chỉ sau đó vài năm,
1390, khi Chế Bồng Nga chết ngay trên chiến thuyền khi tiến đánh Đại Việt, con
Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan bị La Khải
cướp ngôi đã sang Việt cầu cứu. Phong Chế Ma Nô Đà Nan
làm Hiệu chính hầu. Đến 1407, khi nhà Minh bắt được Hồ Quý Lý, Chiêm Thành cất
quân thu lại đất cũ, dân di cư (Việt vào dưới thời Hồ) sợ chạy tan cả[1], các
tướng lĩnh Đại Việt như Hối Khanh Nguyễn Rỗ đều bỏ chạy cả, chỉ một mình Ma Nô
Đà Nan chống nhau với Chiêm Thành, thế cô sức núng, bị người Chiêm giết chết! Trớ trêu thay, đây lại là con của Chế Bồng
Nga! Làm sao để hiểu hiện tượng này?
Quan hệ Việt - Chàm giai đoạn này
quả thật có điều gì đó rất lạ, không giống như ta thường hình dung rạch ròi
địch ta lâu nay! Đó là tầng lớp chính trị, tầng lớp mà ý thức dân tộc, tự hào
dân tộc của họ thường mạnh mẽ, thế nhưng ở đây hình như khái niệm dân tộc không
còn rạch ròi như ta vẫn thường hình dung. Phải chăng ở mức độ nào đó các khái
niệm Chàm - Việt khá là gần gũi chứ không phải chỉ có ta địch? Vậy ở tầng lớp
bình dân, nhân dân lao động không quan tâm mấy đến chính trị thì sao? Hẳn các
tộc người, các làng Việt - Chàm ở cạnh nhau cũng không phải là điều gì không
thể xảy ra.
Vết tích văn hóa Chămpa trong đời
sống người Quảng Nam thì nhiều lắm, vật chất thì ở đâu cũng thấy những đền tháp
hoặc móng gạch Chàm, ở đâu cũng thấy những Lùm Bà Giàng, miếu Hời, lăng Pô Pô
phu nhân, Thiên Y A Na... Phi vật chất thì trước hết phải kể đến những làn điệu
dân ca, hát ru, và sau đó là những lễ hội phong tục như thờ cúng cá voi, hát bả
trạo, các món ăn, khẩu vị, tính cách, phong tục tập quán. Và trong đó dấu ấn
hẳn không thể bỏ qua là giọng nói.
Nhiều người không hiểu cái giọng
nói của người Quảng Nam
nó xuất phát từ đâu trong khi tất cả các gia phả của các dòng họ đều ghi rõ rằng
thủy tổ của họ là người Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Dương... vào đây. Giáo Sư Trần
Quốc Vượng bảo: “Thì các cụ vào đây đâu
có đem vợ con đi được nên lấy vợ Chàm rồi sinh con đẻ cái là cái chuyện hết sức
bình thường. Vấn đề là các bà mẹ Chàm nói tiếng Việt ấy đã truyền lại cho con
cái mình cái giọng của người Chàm nói tiếng Việt. Cái giọng đó chính là giọng
Quảng Nôm nhà cậu” [2].
Bằng chứng về cái chuyện trai Việt lấy gái Chàm thì nhiều lắm. Nhà nghiên cứu
Nguyễn Văn Xuân hay nói về hình ảnh ông Ba Bị của vùng Quảng Bình, Quảng Trị.
Hồi đó các cụ nhà ta đi vào Nam vợ con tất cả đều phải để lại chỉ mang theo một
đứa con trai. Một bị cõng con, một bị lương thực và một bị quần áo. Cái hình
ảnh của những đoàn người ra đi vào Nam khắc khổ và lặng lẽ ấy đủ sức dọa
bất cứ đứa trẻ khóc dai, khó bảo nào. Vào đây những đứa con trai ấy lớn lên lấy
ai làm vợ nếu không phải là các cô gái Chàm? Suy luận logic là vậy, thế nhưng
chúng ta vẫn có được một bằng chứng khá hay ngay trong Sử ký Toàn thư, đó là
Chiếu dụ của vua Lê Hiến Tông năm 1499 (28 năm sau khi Lê Thánh Tông bình
Chiêm): Kể từ nay, trên từ thân vương, dưới đến dân chúng, đều không được
lấy đàn bà con gái Chiêm Thành làm vợ, để cho phong tục được thuần hậu [3]. Dĩ nhiên lấy đó làm bằng chứng
người Việt không lấy vợ Chàm thì thật ngớ ngẩn, đó chẳng qua là vì người ta lấy
vợ Chàm quá nhiều, thành phong trào từ thân vương đến dân
đen, nên mới có cái chiếu dụ như thế!
Trước đó năm 1403, dưới triều Hồ
Hán Thương đã phát động nhiều đợt di dân vào vùng Quảng Nam lập nghiệp.
Triều đình tổ chức cho thuyền chở phụ nữ vào làm vợ cho những di dân nhưng giữa
đường bị bão đánh, tất cả đều bị chìm chết[4]! Ý
định tạo những dòng họ thuần Việt bất thành! Thế thì hóa ra
tất cả những người Quảng Nam
hiện nay đều mang trong người năm mươi phần trăm dòng máu của người Chàm? Và
còn hơn thế nữa họ đang nói tiếng Việt bằng giọng Chàm! Dĩ nhiên sự kiện này
không đại diện được cho cả 500 hình thành bản sắc Đàng Trong, thế nhưng nó cũng
cho thấy ngay từ đầu ý thức “Đại Việt”, một cái gì đó “thuần Việt” cũng đã hình
thành và ít nhiều nó cũng đã định hình một thái độ thiếu bình đẳng với người
bản xứ; điều đó không khỏi tác động đến sự xung khắc khi hai cộng động người
sống cạnh nhau kéo dài nhiều trăm năm sau đó.
Ở Quảng Nam nhiều người vẫn bảo giọng nói
khác nhau là bởi nước uống. Có làng như làng Thanh Quýt, chỉ một con đường làng
không vừa lối cho một chiếc xe bò nhưng bên này đường thì nói mô, tê, răng,
rứa còn bên kia đường thì đâu, kia, sao, dậy...Giọng nói của người
Quế Sơn, Tiên Phước thì khác xa lắm với giọng nói của người Đại Lộc, Điện Bàn,
Hội An. Ngay ở Đà Nẵng mà người “bên tê sông” bao gồm bốn phường: Nại Hiên
Đông, Mân Thái, Thọ Quang, An Hải Tây vẫn giữ cái giọng nói không giống với bất
cứ cái giọng nói nào của người Quảng. Tại sao thế? Do nước uống chăng?
Trong 500 năm từ 1306-1802, đối với
người Chàm ở lại thì kinh đô đã dời vào Đồ Bàn. Hệ thống hành chính, chính trị
coi như không còn nhưng điều đó đối với đa số nhân dân là chuyện xa lạ. Họ vẫn
ở lại với những làng Chàm của họ. Người Việt đến cũng quần cư trong những ngôi
làng Việt mới mở. Có thể là làng này cách làng kia chỉ một con đường làng nhỏ.
Có thể là bên này áo dài khăn đóng, bên kia là sa-rông khăn vấn. Có thể là bên
này kiêng thịt bò còn bên kia thì mỗi lần mổ bò lại trống chiêng inh ỏi. Có thể
là bên này bảo Siva mới là chúa tể của tất cả, còn bên kia thì cãi, không, Ngọc
Hoàng Thượng Đế mới là trên hết. Có thể là họ lườm nhau, nguýt nhau, cãi nhau
suốt 500 năm như thế. Biết làm sao được, đó là cuộc va chạm giữa hai nền văn
minh khổng lồ của nhân loại là Ấn Độ và Trung Hoa. Và phải chăng cú va chạm nảy lửa ấy vẫn còn để lại dấu vết đâu đó trong tâm hồn người
Quảng Nam? Họ như luôn phải khẳng định một điều gì đó, trung thành với một niềm
tin nào đó. Không thế họ không sống được, họ như cảm thấy thất bại và không tồn
tại. Phải chăng họ hay cãi cũng vì thế? Biết làm sao được, họ đã có cả một lịch
sử dài đến 500 năm để cãi nhau kia mà!
Hình ảnh da báo của các ngôi làng
Chàm và Việt ấy ta còn thấy đến giữa thế kỷ16, trong “Ô Châu cận lục” có viết “Làng Thủy Bạn nói tiếng
Chiêm. Gái Giáng La thì mặc áo Chàm, trai thì cầm quạt tàu”. Cái hình ảnh
này đã được một người Anh vẽ lại rất rõ trong một bức tranh vẽ một nhóm người
An Nam ở một làng gần vịnh Đà Nẵng (có thể hiểu là vùng cửa sông thuộc phường
Nại Hiên Đông ngày nay) vào cuối thế kỷ 18 với sà-rông, khăn vấn turban trên
đầu. Như vậy là đến cuối thế kỷ 18 vùng Nại Hiên Đông, Đà Nẵng vẫn còn rất đông
người hoàn toàn mặc đồ Chàm. Họ có hoàn toàn nói tiếng Chàm không? Không ai
biết nhưng ít nhiều nó lý giải được tại sao đến giờ người “bên tê sông” vẫn nói
bằng cái giọng lạ như thế. Ở Thanh Quýt, và Tiên Phước, Quế Sơn tình hình cũng
có thể là đã diễn ra như vậy: Có một số làng Chàm chỉ chịu chuyển sang nói
tiếng Việt về sau này, chậm nhất là cuối thế kỷ 18, chứ không phải tất cả đều
từ 1306 hoặc 1471.
Quả thật là sẽ sai lầm nếu ta cứ
mãi cường điệu cái tính cách của người Quảng Nam lên rồi cố công lý giải cái
điều mà phần lớn sự thật hình thành nên do tưởng tượng, do sự nồng nhiệt với
vùng đất quê hương, do sự cường điệu những điều mà thật ra ở đâu cũng có, ví
như đất địa linh nhân kiệt, đất học, đất văn vật, đất trung tâm văn hóa, đất ngã ba đường...
Rõ ràng sự nghiên cứu văn hóa địa
phương sẽ không nhích lên một bước nếu ở đâu và bao giờ chúng ta cũng cứ lặp đi
lặp lại những mỹ từ vừa nói cho mỗi vùng đất mà không thử tìm hiểu căn nguyên
của tất cả những điều đó, nó xuất phát từ đâu, hình thành và phát triển lên như
thế nào...?
Mà thật ra sự hình thành tính cách,
giọng nói của người Quảng Nam cũng sẽ không có một chút nghĩa lý nào cả nếu qua
đó chúng ta không rút ra được điều gì to lớn hơn cái ý nghĩa địa phương chí của
nó, không góp phần làm rõ hơn cái bản sắc mà qua đó nó có thể đóng góp cho sự
phát triển của vùng đất nói riêng và của cả đất nước nói chung.
Bằng phương pháp phân kỳ lịch sử
Nam Tiến của dân tộc, qua những biến cố lịch sử đã xảy ra trên vùng đất này, và
điều quan trọng nhất là xác định thời gian của mỗi giai đoạn, xác định cái độ
dài thời gian cần thiết để mỗi sự kiện diễn ra có đủ điều kiện để có thể để lại
những dấu ấn của nó trong đời sống, trong tâm hồn của mỗi cư dân rồi định hình
một tính cách trên hậu duệ của họ ở vùng đất này.
Cái phương pháp phân kỳ ở đây thật
ra cũng không có gì mới so với tất cả những gì nhiều người đã nói trước đây,
chỉ có điều nếu trước đây người ta chỉ nêu lên các mốc thời gian của các sự
kiện mà ít để ý đến quãng thời gian đã trải qua giữa hai sự kiện, trong khi
điều đó là vô cùng quan trọng để sự tiếp thu, tiếp biến, giao lưu văn hóa diễn
ra rồi hình thành và cố định một tính cách bền chắc, không chịu biến đổi trong
các giai đoạn sau.
Ví dụ như ít người để ý rằng kể từ khi Bắc
Quảng Nam thuộc vào Việt từ 1306 đến khi vùng đất này có dinh trấn đầu tiên, có
cơ quan quyền lực chính thức đại diện cho triều đình Đại Việt năm 1602, là 300
năm đã diễn ra. 300 năm không chính quyền[5]
trên một vùng đất nhiều dân tộc mà các dân tộc này người ta đã từng đánh nhau,
hoặc nhà nước của các dân tộc này đã từng đánh nhau chí tử suốt nhiều trăm năm
trước đó. Điều gì đã xảy ra trong suốt 300 năm ấy? 300 năm là ngắn hay dài? Đó
là quãng thời gian để hình thành nên nền văn hóa châu Mỹ La Tinh độc đáo trên
cơ sở của ba nền văn hóa khá khác nhau là Châu Phi, Châu Âu, và Châu Mỹ bản
địa. 300 năm chí ít là 12 thế hệ đã trôi qua! Những người con của đời thứ 12 có
biết ông bà tổ tiên đời thứ nhất của mình sống ra sao, yêu ghét cái gì, ý thức
dân tộc cộng đồng như thế nào, thậm chí ông bà họ là dân tộc gì, họ có phải là
người đã quên nguồn gốc hay chưa, hay đã hoà nhập vào cộng đồng dân tộc Đại
Việt mà họ không một chút ý thức? Đó vẫn luôn là những sự kiện quan trọng buộc
chúng ta phải có cái nhìn thấu đáo hơn cũng như phải cân nhắc và trả lại cho nó
những vai trò, vị trí xứng đáng của nó trong tiến trình hình thành lịch sử của
dân tộc. Và thậm chí, sau khi tiếp cận với các nguồn tư liệu chúng tôi đã nhận
ra không phải là 300 năm như cảm nhận ban đầu mà thực sự là đã có 500 năm đằng
đẵng (1306-1802) để hoàn thành một cuộc hòa nhập khó diễn tả hết những nét bi
hùng của nó.
Một ví dụ khác, sự kiện Chúa Nguyễn
cho xây lũy Trường Dục[6]
đóng vai trò như thế nào trong lịch sử? Ai cũng biết rằng đó là một chiến lũy
nội bất xuất ngoại bất nhập[7]
nhưng ít người để ý rằng kể từ khi có lũy Trường Dục 1630 thì các cuộc di dân
cũng có nghĩa là chấm dứt. Lúc này thì cho dầu miền Thanh - Nghệ, Hải Dương có
mất mùa đói kém thế nào đi nữa thì dân di cư cũng không thể vào Nam cho dầu họ
đã có một số thân bằng quyến thuộc vào trước. Thực tế cho thấy là các năm sau
1630 các cuộc di dân đều đã đi lên vùng biên giới phía Bắc. (Trong Thanh
Thực Lục thì giữa các năm 1738 và 1743 người Việt Nam vượt biên giới sang Trung
Hoa vào các tháng 6 và 8 năm 1742, rồi vào tháng 2 và 4 năm 1743. Thanh Thực
Lục đề cập nhiều đến việc người Việt bán con cho người Trung Hoa vì đói kém)[8].
Việc này bản thân nó cũng chỉ là một sự kiện lịch sử đơn thuần nếu ta không
nhận thấy từ nó một điều rằng chính nhờ sự chia cắt tuyệt đối này, sự cắt đứt
hoàn toàn các mối quan hệ với vùng “quê cha đất tổ” ở phương Bắc mà Đằng Trong
đã dần ổn định một tính cách, một vùng ngôn ngữ, hay nói cách khác, trên vùng
đất mới với nhiều cộng đồng người với nhiều nền văn hóa khác nhau đã tổng hòa
nên một sắc thái văn hóa mới không còn giống với nguyên quán. Sự cắt đứt này
kéo dài 150 năm từ 1630 đến khi Nguyễn Huệ thống nhất đất nước giữa năm 1786.
150 năm là gần 6 đời, thời gian đủ để xóa nhòa các nét văn hóa được những người
đầu tiên cố gắng bảo tồn, nếu như con cháu họ không muốn bảo tồn! Hãy nhìn vào
các thế hệ thứ hai, thứ ba trở đi của các con cháu người Việt ở các nước Âu Mỹ
chúng ta sẽ hình dung được phần nào điều gì xảy ra nếu văn hóa bị cắt đứt, mất
giao tiếp với nguồn cội trong suốt 140 năm!
Khi nghiên cứu các giai đoạn lịch
sử của Đàng Trong nhiều người đã phải dừng lại các công cuộc tìm hiểu bởi các
sử liệu để lại như đã nói là quá sức hiếm, hiếm đến mức mỗi giả thiết đưa ra
đều khó lòng tìm được đủ cứ liệu để chứng minh. Chính vì thế trong suốt một
thời gian dài công cuộc nghiên cứu lịch sử Đàng Trong hầu như chỉ dừng lại ở
việc thống kê, dựng lại lịch sử các triều đại và đôi nét về đời sống kinh tế xã
hội của Xứ Đàng Trong. Công cuộc Nam tiến được diễn giải và được hiểu như là
một đường thẳng tiệm tiến, sự khó khăn của những di dân tiên phong chỉ được
hiểu là sự khó khăn của người đến nơi hoang vu, rừng thiêng nước độc, không
bóng người, họ là những người Việt nguyên gốc với tất cả cái nền bản sắc văn hóa
của đồng bằng Bắc bộ. Thế nhưng cái mô hình phát triển này đã ngày càng bộc lộ
nhiều điều thiếu sót, không thể giải thích được nhiều hiện tượng thực tế của
vùng Quảng Nam; ví dụ như: Người Quảng Nam có tiếp thu nhiều điều từ nền văn
minh Chàm thế nhưng thử hỏi họ tiếp thu cái gì ở chỗ không người, hoặc thấy
người là chém là giết và xem họ là mọi? Đi tìm câu trả lời cho tất cả những
điều như thế quả thật không dễ, nhất là trong tình hình các cứ liệu là quá sức
hiếm.
Với cái nhìn phân kỳ chúng ta cũng
sẽ có thái độ đúng đắn hơn với các nguồn tư liệu, đơn giản là vì không có bất
cứ tư liệu nào đủ phản ảnh được toàn bộ quãng thời gian dài suốt 500 năm. Có
thể lúc này, nơi kia người Chàm bị tàn sát nhưng nơi khác lại không thế. Có thể
chỗ này người Việt di cư chạy tan cả khi Chiêm Thành cất quân thu lại đất cũ
nhưng chỗ kia, lúc khác thì người Việt vẫn ở lại cùng người Chàm mà không hay
chính quyền đã thay đổi. Trước đây, khi tìm thấy những bản văn “Bắc địa tấu từ”
tương truyền là những bản báo của những di dân về những ứng xử với người Chàm
gởi ra triều đình Thăng Long; trong đó nói nhiều về chuyện dùng những mưu chước
đề lấy đất của người Chàm. Hoặc như giới nghiên cứu khá hào hứng với những gia
phả cổ xưa khả tín của người Chàm hoặc người Việt vào sớm và xem đó như là bức
tranh chân thực về lịch sử Nam tiến mà không hay rằng trong không gian khác,
thời gian khác chuyện có thể đã xảy ra không như vậy. Các bạn có thể thấy trong
sách, tư liệu được xử dụng nhiều nhưng không một tư liệu nào gọi là một tư liệu
“đinh”, quan trọng nhất phản ảnh được toàn bộ 500 năm của một cuộc giao hòa văn
hóa. Điều rút ra ở đây là góc nhìn với vấn đề, còn tư liệu chỉ giúp ta hình
dung nên câu chuyện, bối cảnh xã hội lúc đó không hơn không kém.
Lịch sử Chămpa, lịch sử xứ Đàng
Trong hầu như đã được các nhà nghiên cứu đi trước làm xong với nhiều công trình
công phu rất đáng để chúng ta khâm phục như “Lịch sử Chămpa” của Maspero; “Lịch
sử xứ Đàng trong” của Phan Khoang; hoặc như công trình nghiên cứu cụ thể
hơn về chính trị, xã hội của Li Tana trong “Xứ
Đàng Trong - Lịch sử Kinh tế - Xã hội Việt Nam Thế kỉ 17 và 18”... Ở đây
chúng tôi không lặp lại những sự kiện lịch sử ấy mà đi sâu phân tích các sự
kiện lịch sử đó hầu cố gắng tìm ra những bằng chứng đủ sức thuyết phục, hoặc
giải thích được các vấn đề về bản sắc người Quảng Nam nói riêng và Xứ Đàng
Trong (các tỉnh Nam Trung bộ và cả đến miền Nam) nói chung.
Không để bị ràng buộc quá nhiều vào
các cứ liệu, trên cơ sở những sử liệu đã có chúng tôi mạnh dạn đưa ra những giả
định trên cơ sở những lập luận lôgíc. Dĩ nhiên điều này thật khó tìm được sự
đồng tình nhưng bù lại chúng tôi vẫn tin rằng điều này sẽ đẩy các cuộc nghiên cứu
sau này thoát khỏi vạch xuất phát, thoát khỏi sự nghiên cứu lịch sử đơn thuần,
để từ đó có thể đem lại những hiệu quả cụ thể trong đời sống văn hóa, tâm linh
của người Quảng Nam, những hiệu quả cụ thể trong sự nghiên cứu các tộc họ, các
gia phả. Và điều quan trọng nhất là qua đó chúng ta có thể hiểu được rằng lịch
sử bản thân nó, với những câu chuyện, sẽ không là gì cả vì ở đâu mà không có
những câu chuyện, cái quan trọng là qua lịch sử đó chúng ta hiểu được bản sắc
của vùng đất ấy, dân tộc ấy.
Và đó, bản sắc lịch sử, có thể nói
là phương pháp chính của chúng tôi khi khảo sát các giai đoạn lịch sử đã diễn
ra trong quá trình Nam Tiến của dân tộc trên vùng đất Quảng Nam này. Nói đúng
và dễ hiểu hơn, chúng tôi tập trung nhiều sự chú ý của mình vào các sự kiện có
khả năng tạo nên bản sắc.
[1] SKTT
tập 2 trang 219
[2]
Những trích dẫn lời Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng ở đây đều là những lời ông giảng
hoặc nói chuyện mà chúng tôi được nghe chứ chưa thấy ông viết ra ở công trình
nào. Tuy vậy, đây thực sự là những cảm hứng chính để chúng tôi đi sâu hơn tìm
hiểu những gì mà bằng trực cảm ông đã nhìn thấy. Và đó cũng là cảm hứng chính
để chúng tôi hoàn thành tập sách này.
[3]
Chiếu dụ tháng 8 ngày 9 năm Cảnh Thống thứ 2 1499. SKTT. NXB Khoa học Xã hội.
Tập 3, trang 17.
[4]
SKTT tập 2 trang 204: Năm 1403 Hán Thương đem những người không có ruộng mà có
của đến Thăng Hoa (Nam Quảng Nam, Nam sông Thu Bồn đến giáp Quảng Ngãi nay),
biên chế thành quân ngũ. Quan lại ở các lộ, phủ, châu, huyện chia đất cho họ ở.
Người ở châu nào thì thích hai chữ tên châu ấy vào hai cánh tay để làm dấu
hiệu. Đến năm sau đưa vợ con đi theo, giữa đường bị bão chết đuối, dân phần
nhiều ta oán.
[5]
Thật ra cũng có nhưng đó chỉ là những chính quyền hành chính mờ nhạt, chủ yếu
tập trung ở các vùng thị trấn dọc đường quốc lộ. Ngay vị tổng trấn danh tiếng cuối
cùng trước khi Nguyễn Hoàng vào nam là Bùi Ta Hán khi mất cũng được Đại Việt Sử
ký Toàn Thư gọi là Thổ quan, cũng đủ cho ta hình dung chính quyền cai trị của
Đại Việt trên vùng đất này sau 1471 cũng không phải là một chính quyền chặt chẽ
cho lắm.
[6]
Năm Canh Ngọ 1630, ông Đào Duy Từ chủ xướng việc thiết kế và chỉ đạo xây dựng
hai công trình phòng thủ quan trọng là lũy Trường Dục ở huyện Phong Lộc, tỉnh
Quảng Bình (1630) và lũy Thầy từ cửa sông Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu (Đồng Hới,
tỉnh Quảng Bình), kể từ đây xin gọi chung là lũy Trường Dục.
[7]
Xem thêm các dẫn chứng ở các chương nội dung.
[8]
Dẫn theo Li Tana, Xứ Đàng Trong, nxb Trẻ năm 1999, trang 40
--------------
Sách có bán ở các nhà sách Phương Nam trên toàn quốc.
Sách có bán ở các nhà sách Phương Nam trên toàn quốc.

Tôi rất thích " có 500 năm như thế" XB 1/2011, mong được sở hữu tác phẩm XB 10/2012, nhưng nhà sách Phương Nam tôi vào tìm chưa có, xin hỏi có cách nào nhanh nhất không? Xin hỏi thêm tác phẩm: Li Tana “Xứ Đàng Trong - Lịch sử Kinh tế - Xã hội Việt Nam Thế kỉ 17 và 18” có thể tìm ở đâu?
Trả lờiXóaMong giúp đở, chân thành cảm ơn! Lê Ngọc Quốc
Sách của Li Tana chắc chắn là không còn rồi, đã trên dưới 10 năm rồi sao còn được. "Có 500 năm như thế" chỉ ít hôm nữa là có ở Phương Nam trên toàn quốc.
XóaHay, Một phát mần luôn 2 bài !
Trả lờiXóaCảm ơn tác giả rất nhiều.
DAY LA MOT CUON SACH RAT HAY VA DAY Y NGHIA
Trả lờiXóa