Thứ Bảy, ngày 29 tháng 10 năm 2011

KHI ĐÀN ÔNG THỪA RA

Xem loạt ảnh của nhà báo Dương Minh Phong kể chuyện người Rục đang đói, thấy ảnh những căn nhà người Rục, loại nhà xây xi măng, được xây và phát cho không để đồng bào định canh định cư. Và như ta đã thấy, vì không hiểu họ, không hiểu nếp ăn nếp ở, cái hay, cái văn hóa của người du canh du cư nên căn nhà sau khi ở một thời gian đã như biến thành một góc hang không hơn không kém. Đây không phải là chuyện chỉ riêng người Rục mà hầu như cả Trường Sơn ở đâu cũng vậy, những vấn đề của người du canh du cư giờ bị bắt ở một chỗ.


Căn bếp lạnh tênh



 
Bữa trưa toàn sắn
Cháu đâm bồi cho em
 
Nơi ngủ của gia đình Cao Thị Nguyên, 3 người.
===========================================




                                                               Khi đàn ông thừa ra
Từ mấy ngàn năm nay, sống giữa núi rừng thâm u, với nền kinh tế hái lượm là chính, để tồn tại, các cộng đồng người dân tộc thiểu số đã dần phân công công việc: người phụ nữ thì lo chuyện lương thực và củi lửa, bếp núc, còn người đàn ông thì lo chuyện săn bắt thú rừng, tức là tìm nguồn đạm.
Vai trò của người đàn ông
    Bữa ăn mà không có thịt thì đó là nỗi sỉ nhục đối với người đàn ông trong nhà. Từ mấy nghìn năm nay, đó là trách nhiệm của người đàn ông và đó cũng là vinh dự, là vị trí, là uy tín của họ đối với gia đình, với cộng đồng. Qua việc đi tìm nguồn đạm, săn bắt thú rừng, người đàn ông chứng tỏ được sức mạnh và sự khôn ngoan của mình.
Cuộc sống du canh, du cư mới chỉ chấm dứt từ vài chục năm gần đây. Các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Trường Sơn đã có hàng ngàn năm du canh, du cư trong các cánh rừng mưa nhiệt đới. Sau thời kỳ hái lượm, họ đã biết canh tác lúa rẫy và chăn nuôi. Thế nhưng cuộc sống du canh, du cư không vì thế mà dừng lại. Điều này có nhiều nguyên nhân. Trước hết là do lúa rẫy, sau khi canh tác vài năm, đất bạc màu và người ta cần đến những vạt rẫy mới. Lúc này thì những ngôi nhà lợp lá cũng đã bắt đầu hư hỏng, môi trường sống cũng đã nhiễm bẩn do cả phân gia súc và người. Sân bản, rồi gầm sàn lầy ra bởi những chú ỉn cày xới. Các con suối quanh bản cũng đã cạn cá. Phương thức đánh bắt cá của người miền núi cũng là chuyện đáng nói, họ ngăn lại cả một con suối, cho nó chạy hướng khác rồi dùng một loại vỏ cây đập giập thả xuống suối, cá chết nổi lên không chừa một con. Con suối như thế đến vài năm sau cá cũng không trở lại. Thú rừng cũng tránh xa cái chỗ con người ở nên việc đặt bẫy cũng khó khăn hơn.
Để lại cái môi trường không thể sống được ấy, cả bản, cả làng dọn đến nơi ở mới và mọi chuyện lại tinh tươm, sạch sẽ như mới. Rẫy lại được mùa, suối lại đầy cá, những cánh rừng quanh bản cũng nhiều thú để săn bắt. Những ngôi nhà và sân bản, dưới gầm sàn đều sạch sẽ, trẻ con lăn lê không sợ phải nhiễm bẩn như nơi ở cũ.
Trong cái vòng du canh du cư ấy, ta dễ hiểu vai trò của người đàn ông quan trọng như thế nào. Ngoài việc tìm cái thịt về cho cả bản họ còn có nhiệm vụ phát rẫy rồi làm nhà. Đó quả thật là những chuyện nặng nhọc không người phụ nữ nào có thể thay thế được. Những ngôi nhà sàn, rồi nhà rông, nhà gươl lưu giữ toàn bộ bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc cần rất nhiều đến bàn tay vừa khoẻ mạnh vừa thông minh tài hoa của người đàn ông. Người đàn ông luôn có chỗ để khẳng định vai trò của mình và cũng không bao giờ thiếu việc để làm. Lúc rảnh rỗi ra, hoặc mùa mưa kéo dài thì người đàn ông ngồi nhà đan gùi, làm rổ. Và mặc nhiên công việc của người phụ nữ được quy định là chăm lo cái rẫy mà người đàn ông đã phát dọn ra, giã lúa, nấu cơm và lo chuyện củi lửa.
Tính nết của củi lửa
Công việc một ngày của người phụ nữ ở rẫy không phải là ít nhưng cũng không phải là nhiều. Cứ hết việc này đến việc khác, hết làm cỏ lúa đến làm cỏ sắn, cỏ vườn cà, vườn chuối. Hết mùa tỉa lúa đến mùa suốt lúa, hết mùa trồng mướp, trồng bầu đến mùa dọn bờ, dọn rẫy. Cứ như vậy mỗi mùa mỗi việc, nhưng có một công việc không ngày nào người phụ nữ không làm là bổ củi. Cái củi, cái lửa đối với người dân tộc thiểu số miền núi như cái điện của người Kinh dưới xuôi. Một ngày, một bếp dùng không biết bao nhiêu là củi. Rồi củi để dành cho mùa mưa, mùa gió. Tất cả các dân tộc sống trên dãy Trường Sơn đều xem chái củi của mỗi nhà là thước đo đức hạnh người vợ gia đình đó. Từ bé, năm, bảy tuổi bé gái đã theo mẹ lên rẫy và cầm rìu bổ củi. Người mẹ thường rất khắt khe với con gái khi bổ một cây củi không đẹp. Phải chặt cho phẳng mặt và thật đều rồi bổ làm sao để cây củi nứt ra như nở hoa để đến khi về nhà chỉ cần tách nhẹ là rời ra và phải thật mau bén lửa. Rừng có bao nhiêu loại và “tính nết” của mỗi loại cây thế nào thì người phụ nữ phải thuộc cho bằng hết. Cây niêng thì cho lửa mạnh nhưng mau tàn, cây xà ê thì than đượm nhưng khó bổ... Cây củi trong bếp gắn chặt với người phụ nữ miền núi. Đến tuổi lấy chồng, cứ nhìn vào chái củi sau mỗi nhà là biết nhà đó có con gái cần lấy chồng. Cô gái siêng năng hay lười nhác, cẩn thận hay qua loa, cứ nhìn vào chái củi là biết. Và cũng nhìn vào chái củi mà nhà trai biết lấy cô gái đó về thì sính lễ phải là bao nhiêu gùi củi. Cho con gái đi làm dâu nhà người, nhà gái chẳng đòi gì, chỉ đòi củi. Đứa xấu, đứa lười thì bốn mươi gùi, đứa giỏi đứa siêng thì tám chục, một trăm. Và khi về già vẫn cứ phải hằng ngày lên rẫy bổ củi rồi gùi về. Ngàn năm nay đã thế rồi. Hết bổ củi thì giã gạo, rồi giần, rồi sàng, rồi nấu cơm, nấu canh, rồi làm rượu, rồi sinh con...

Đổi thay từ đâu trước ?
Kể từ ngày định cư, cuộc sống đảo lộn, cuộc sống mới với những yêu cầu mới đã không thể thay thế cho cái văn hoá ngàn năm du canh du cư đã sâu rễ bền gốc nên đã để lại khoảng trống còn lâu lắm mới có thể lấp bằng.

Trong khi phụ nữ vẫn giữ nguyên công việc được phân công thì đàn ông như thừa ra. Định cư rồi, nhà không phải làm mới mỗi 2-3 năm. Định canh rồi, rẫy không phải phát. Việc đi tìm cái thịt, chất đạm thì cũng không thể bởi suối cạn cá, không chỉ vì sự đánh bắt cổ truyền mà còn do thuốc nổ và nạn đào đãi vàng. Thú cũng chạy xa vào rừng sâu, đi săn giỏi lắm cũng chỉ vài con chuột rừng, vài con sóc. Đàn ông chỉ ở nhà giữ con cho vợ lên rẫy. Các bản từ bắc Kon Tum đến miền tây Nghệ An, Hà Tĩnh... đều thấy nhiều đàn ông ở nhà địu con. Người chăm chỉ thì vừa địu con vừa chẻ mây, đan gùi đan rổ. Người lười thì đi ra đi vào rồi dăm ba ông gặp nhau, lôi rượu ra uống. Không biết làm gì trong khi sức lực và uy tín vẫn buộc anh ta phải khẳng định mình. Rượu thường giúp tự tin hơn vào những lúc như thế này. Và cứ thế, không ai bảo ai, rượu như cho các ông cảm giác mình còn là người đàn ông, còn là nhân vật quan trọng trong gia đình, họ say triền miên. Không đi tìm thú rừng, họ theo những người đào đãi vàng, hoặc khuân vác vận chuyển cho các bãi vàng để kiếm tiền. Và đồng tiền này cũng dẫn đến các cuộc say không dứt.
Trong vùng dân cư gần các thị trấn, chợ búa hoặc gần đường ô tô thì việc mua bán, trao đổi các sản vật như mây, măng đã tạo công việc cho người đàn ông và đồng tiền kiếm được cũng để mua thịt về cho vợ con. Thế nhưng ở các bản xa xôi trong rừng sâu, những thế hệ đàn ông đang không chỉ thừa ra mà còn là gánh nặng cho cộng đồng. Hiện thực xã hội này đòi hỏi các nhà chức trách không thể không quan tâm với những chính sách và biện pháp thiết thực.
Hồ Trung Tú


12 nhận xét:

  1. Một bài viết hay, chỉ trúng huyệt cần giải, nhưng chắc chắn nếu luận chứng kinh tê viết ra với tâm can đau đáu, rất khó đả thông tư tưởng lối mòn định canh định cư.
    Em vừa có chuyến đi miền núi Nam Giang (Quảng Nam), không nhiều thì giờ, nhưng cũng hiểu bản sắc đàn ông đang chây ì. Nhiều cán bộ kể, rượu tà vạt đang níu người đàn ông ở bản thành những ma men bất hạnh.
    Bởi thế mà một số đồn biên phòng vùng biên cơ cấu cán bộ đồn về làm phó Bí thư xã hoặc phó chủ tịch xã nhằm dần dà làm cho người dân hoặc người nghiện tà vạt "nậy" dần lên, nhưng rất khó bởi hình như đã lỡ đi một nhịp cầu...

    Trả lờiXóa
  2. Bài viết rất hay và mình rất thích câu kết của bạn nhưng có lẻ điều yêu cầu của bạn (của chúng ta) chỉ là "gỏ dàn tai trâu"
    Mấy chục năm trước cũng vì cái câu kinh điển: "Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu" đã kích động mọi từng lớp xã hội đứng lên làm cách mạng.
    Và rồi chiến tranh đã chấm dứt hơn 36 năm, ai đang làm theo năng lực và ai đang hưởng theo nhu cầu?
    Một bài thơ trên mạng có lẻ củng nói lên cái khắc khoải về quê hương đất nước ngày nay.
    Về Quê
    Trở lại quê hương chẳng giống xưa
    Làng trên xóm dưới phố lưa thưa
    Ngoài đường một đảng bè ăn cỗ
    Thủ phủ huênh hoang bọn nói lừa
    Đất nước đang thời cùng mạc vận
    Cơ đồ lủ giặc bán ai thưa?
    Làm sao hỏi được ông Trời nhỉ
    Phải bọn cầm quyền lũ đá dưa?

    Trả lờiXóa
  3. Bài viết hay quá anh Tú ơi. Nhà nước có ai nghĩ gì không nhỉ? Mà không hiểu những bài viết trên các trang blog như thế này họ có đọc bao giờ không?

    Trả lờiXóa
  4. Nhìn ra vấn đề và viết hay hè...anh đăng báo nào chưa?

    Trả lờiXóa
  5. Hì... đây mới nhìn ra vấn đề thôi, còn phải giải quyết vấn đề nữa. Cũng rất bất ngờ, chỉ cần chút thịt trong bữa ăn !

    Trả lờiXóa
  6. Thêm vài gợi ý giải quyết vấn đề nữa là được một cái PTL hay rồi...

    Trả lờiXóa
  7. Điều anh nói không sai, không đúng. Đúng là với chúng ta. Còn với họ là sai. Thế gian này đã ngập tràn nước mắt. Họ đâu còn lệ để khóc ai anh
    Thôi thì ta cứ nói cho vợi lòng mình vậy.

    Trả lờiXóa
  8. Bài viết thật là tuyệt ^^
    Đàn ông vốn là trụ cột gia đình, cơ mà hiện thực đã cướp đi quyền đó và biến họ thành những người thừa của xã hội. 1 hệ lụy đáng buồn :(

    Trả lờiXóa
  9. Không chỉ ở trên rừng, ở đồng bằng cũng có nạn đàn ông thừa ra như thế đấy.

    Trả lờiXóa
  10. Việc đàn ông (phát rẫy, làm nhà, săn thú) không còn nữa nhưng họ vẫn không chịu làm những việc của đàn bà. Như chị Phùng Kim Hương nói, ở miền xuối cũng vậy, có những việc của đàn bà như rửa chén, đi chợ, nấu cơm người đàn ông dù ở không cũng không chịu làm. Chị Phùng Kim Hương nói đúng :)

    Trả lờiXóa
  11. Các chương trình định canh, định cư; xóa nhà tạm cho đồng bào miền núi tốn vô số ngàn tỉ đồng, nhưng cái kết quả là như bài anh Tú viết đó. Thật đau lòng. Ai cũng thấy, các vị ấy nhận ra hết nhưng vì nguồn tiền dành cho các chương trình dân tộc miền núi vô cùng nhiều nên các vị ấy vẫn không ngừng phá nát không gian và bản sắc văn hóa có từ ngàn đời của người vùng cao Trường Sơn. Hơn 10 năm trước em hay làm ct dân tộc miền núi, đã thấy nó te toét rồi, bây giờ chắc thê thảm hơn. Không biết làm thế nào để họ dừng lại...

    Trả lờiXóa