Thứ Hai, ngày 20 tháng 1 năm 2014

Tổng hợp các sự kiện tưởng niệm ngày mất Hoàng Sa ở Đà Nẵng

Để ghi dấu 40 năm ngày Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (19/01/1974-19/01/2014), Uỷ ban nhân dân huyện Hoàng Sa, thành phố Đà Nẵng phối hợp các cơ quan có liên quan tổ chức chuỗi các hoạt động tuyên truyền, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, trong đó có 3 nội dung chính là:

1/ Chương trình ca nhạc hát về biển, đảo quê hương và Lễ thắp nến tri ân Hướng về Hoàng Sa vào lúc 19h00 ngày 18/01/2014 tại Công viên Biển Đông.
2/ Triển lãm “Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử” từ ngày 19 đến 25/01/2014 tại Bảo tàng Đà Nẵng, số 24 đường Trần Phú, Đà Nẵng (phối hợp Bộ Thông tin và Truyền thông).
3/. Hội thảo “Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa” vào lúc 13h00 ngày 19/01/2014 tại Khách sạn Hoàng Sa, số 35 - Dương Đình Nghệ, Sơn Trà, Đà Nẵng (phối hợp Hội Khoa học lịch sử Đà Nẵng). 

Chương trình 1 đã bị hoãn hoàn toàn. 2 chương trình còn lại vẫn được tổ chức nhưng xem như một sinh hoạt nội bộ, không quản bá rộng rãi và các báo không được đưa tin. Sau đây là ghi nhận của chúng tôi và các đồng nghiệp báo chí với các thông tin trên Facebook và các block.


Chương trình ca nhạc hát về biển, đảo quê hương và Lễ thắp nến tri ân Hướng về Hoàng Sa mặc dù bị hủy nhưng người dân quanh khu vực công viên biển đông vẫn lặng lẽ tổ chức theo cách của mình là cắm cờ dùng trong các trường hợp lễ tang để tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh khi bảo vệ Hoàng sa vào ngày 19/1 năm 1974. 


Và đây là lần đầu tiên sau 40 năm những nén hướng đã được thắp lên, những phẩm vật cũng được dâng cúng hướng đến vong linh những người vì tổ quốc mà hy sinh thân mình. 


Ở buổi lễ khai mạc triển lãm về Hoàng Sa tại bảo tàng Đà Nẵng các báo vẫn không được đưa tin nhưng nhiều nhà báo vẫn đến dự, lặng lẽ chụp hình và ghi lại những khoảnh khắc thật cảm động. Trên Fb của mình nhà báo Hồ Tấn Vũ chép: Không ai cầm được nước mắt khi chủ tịch huyện Hoàng Sa, Đặng Công Ngữ, đọc bài diễn văn đầy cảm xúc của mình. Ông Ngữ cúi đầu chân thật: "Tôi xin lỗi với nhân dân, ngàn lần xin lỗi vì không tổ chức được đêm thắp nến tri ân như dự kiến". Ngồi bên dưới, chủ tịch hội khoa học lịch sử TP Đà Nẵng, ông Bùi Văn Tiếng mắt đỏ hoe, liên tục kéo áo lau nước mắt khi bài diễn văn nhắc đến Hoàng Sa ngày 19-1-1974. Nhiều đôi mắt ngấn nước, nhiều ánh mắt tủi hờn, nhiều tiếng thở dài lặng lẽ, anh linh các anh hùng ngày ấy như lặng lẽ quay về. Không ai nói với nhau lời nào nhưng ai cũng biết buổi khai mạc triển lãm trở thành buổi tri ân trong lòng mỗi người khi nhắc đến Hoàng Sa. 

Ký ức như ùa về trong ngày đặc biệt này với các cựu binh VNCH tham chiến Hoàng Sa ngày trước cũng được mời đến tham dự buổi triển lãm này. Các cụ đều đã già, họ bình thản, có lẽ thất thủ lần ấy không phải lỗi của riêng ai, các anh, các chú, các bác đã chiến đấu hết mình. 


Ở buổi hội thảo khoa học “Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa” tại Khách sạn Hoàng Sa, số 35 - Dương Đình Nghệ, Sơn Trà, Đà Nẵng gồm những chuyên gia đầu ngành về lịch sử, những chuyên viên kỳ cựu trong Ban biên giới Chính phủ, các cựu đại sứ ở các nước trên khắp thế giới qua các thời kỳ. Nhiều tham luận hay, thông tin mới, nhiều cách nhìn vấn đề dưới những góc độ mới được nêu ra nhưng nghe càng hay bao nhiêu thì cảm giác ngậm ngùi càng nhiều bấy nhiêu khi không một nhà báo có mặt. Tất cả, như bão trong chén trà.


Và cuối cùng là vật lưu niệm này của Trung tâm nghiên cứu văn hoá Minh Triết với câu thơ của Trạng Trinh Nguyễn Bỉnh Khiêm: "Biển Đông vạn dặm dang tay giữ. Đất Việt muôn năm vững trị bình". Một cuộc trao đổi nhỏ trên Facebook cuối cùng vẫn không hiểu tại sao Nguyễn Bỉnh Khiêm lại có được những câu như vượt thời gian 500 năm đến vậy.

Thứ Ba, ngày 14 tháng 1 năm 2014

Thuế tiêu thụ đặc biệt với ô tô- Đã đến lúc cần xóa bỏ.

Được biết các bộ chức năng đang lấy ý kiến về thuết tiêu thụ đặc biệt với ô tô. Xin góp vài ý kiến này.
Ô tô giá rẻ chắc chắn sẽ giúp giảm các vụ tai nạn giao thông chết người và quy hoạch đô thị sẽ dễ mở rộng theo hướng hiện đại hơn.

Thuế tiêu thụ đặc biệt nhằm đánh vào các mặt hàng nhà nước không khuyến khích tiêu dùng như thuốc lá, rượu, bia, điều hoà nhiệt độ, bài lá, hàng vàng mã, kinh doanh vũ trường, xổ số, đánh bài.v.v... và trong đó có ô tô. Có nghĩa là, với chính sách thuế này thì ô tô là mặt hàng hạn chế tiêu dùng còn cao hơn cả rượu bia, thuốc lá và vàng mã, kinh doanh karaoke, casino... Lý do đưa ra, theo quan điểm của Bộ Công Thương, và cũng là quan điểm chính thức của nước ta ngay từ khởi thủy cho đến hiện nay,  thì: “Đây không chỉ đơn thuần là hàng tiêu dùng, mà còn là mặt hàng thuộc dạng xa xỉ và phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, nghĩa là không được khuyến khích tiêu thụ do cơ sở hạ tầng chưa tốt, đường sá chưa bảo đảm để tạo ra sự thông thoáng của giao thông”. (Theo phát biểu của nguyên thứ trưởng Đỗ Hữu Hào năm 2006).

Nhằm thu ngân sách hay do hạ tầng chưa đủ?
Chưa thấy công trình nghiên cứu nào xác định hạ tầng giao thông như thế nào thì đáp ứng được số lượng ô tô như thế nào. Tất cả chỉ mới dừng ở mức cảm tính là xe máy đã thế thì ô tô chắc hẳn là sẽ còn khủng khiếp hơn nhiều!
Hình dung tỉ lệ ô tô và xe máy

Theo các thông báo của Bộ Giao thông thì tỉ lệ diện tích dành cho giao thông ở ta mới chỉ đạt 10%, trong khi ở các nước láng giềng như Thái Lan, Mã Lai là 20%, vì thế mà hạn chế số lượng ô tô. Thoạt nghe thì có lý, nhưng thực tế thì số lượng ô tô ở ta không phải bằng ½ các nước đó mà ít hơn rất nhiều lần. Theo tính toán trong “Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ Việt Nam” thì so với Indonesia, số lượng xe ô tô ở ta hiện ít hơn 7 lần, nhưng hệ thống giao thông của Indonesia cũng chỉ ở mức cao hơn ta một chút.
Có nghĩa là đường sá ở ta vẫn đủ chỗ cho số lượng ô tô nhiều hơn cỡ 5-7 lần số hiện có.
Vậy tại sao, chỉ với xe máy thôi, ở các thành phố lớn ta đã có cảm giác là không thể nào chịu nổi ?
Tất cả đều nằm ở quan niệm và phương pháp tổ chức giao thông.

Chính bởi vì đi xe máy, tiện đâu ghé đó, tiện đâu quẹo đó nên người ta chẳng bao giờ chịu gởi xe mà đi bộ, đó là chưa nói cứ mỗi lần quẹo như vậy là ẩn chứa bao nhiêu hiểm họa. Cả nhà 3 người, có khi 4 người trên một chiếc xe máy, ai cũng biết là nguy hiểm nhưng không còn lựa chọn nào khác. Hồi chiến tranh trẻ mồ côi nhiều vì cha mẹ bị súng đạn bom mìn, còn hôm nay thì bao trẻ bị mồ côi vì cha mẹ chúng sáng đi rồi chiều không trở về nữa ? Mà chiếc ô tô có đắt đỏ gì lắm cho cam. Nghe nói ở Mã Lai chỉ 3 ngàn đô la Mỹ một chiếc xe Proton, rẻ hơn nhiều chiếc Spacy hồi mới ra 5.000, hoặc @ đến 7.000 đô la Mỹ, và hiện nay chiếc SH đã hơn 10.000 USD. Nếu chính sách về ô tô đúng đắn hơn một chút, tức có giá ô tô rẻ ngang xe máy hiện nay, thì bây giờ Việt Nam ta số lượng ô tô chắc cũng xấp xỉ Indonesia mà đường sá cứ cho là ngang họ thì cũng chưa có gì gọi là “cơ sở hạ tầng chưa tốt, đường sá chưa bảo đảm”.

Và nữa, nếu như Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh không đủ đường cho ô tô chạy mà đánh thuế TTĐB thì hà cớ gì không để cho người dân các tỉnh khác, như miền Trung hoặc Tây Nguyên được mua xe chạy ?
Rõ ràng lập luận “cơ sở hạ tầng chưa tốt, đường sá chưa bảo đảm” là một ngụy biện nhằm che dấu cho một mục tiêu khác nào đó trong việc đánh thuế TTĐB với ô tô. Vậy đó là mục tiêu gì? Chưa một người có trách nhiệm nào thực lòng nói lên sự thật nào nhưng chúng ta đều có thể dễ dàng đoán ra mục tiêu nguồn thu ngân sách là mục tiêu chính của loại thuế này.

Thế nhưng, cần nói ngay rằng thuế TTĐB khiến phần lớn, tuyệt đại đa số người dân không thể tiếp cận được thành quả công nghệ của loài người này, và nhà nước trở thành khách hàng chính của các hãng ô tô khi lượng mua xe công bao giờ cũng chiếm tỉ phần lớn. Nếu vậy thì đây quả thực là lấy tiền từ túi phải bỏ qua túi trái chứ nguồn thu ngân sách thực sự vẫn không bao nhiêu, cho dù con số có lớn đến thế nào chăng nữa.

Những thiệt đơn thiệt kép nếu duy trì thuế TTĐB
Sự mâu thuẫn trong chính sách của chính phủ thời gian qua lẽ ra đã phải có người đứng ra chịu trách nhiệm: Muốn phát triển công nghiệp ô tô nhưng lại giới hạn tiêu dùng. Một mâu thuẫn ngô nghê nhưng không hiểu sao lại được áp dụng một cách bất chấp mọi ý kiến đóng góp của các chuyên gia thế giới. Với ngay cả Mỹ hoặc Nhật thì công nghiệp ô tô luôn là ngành công nghiệp mẹ, nó kéo theo hàng loạt ngành công nghiệp khác phát triển từ luyện kim, sắt thép đến, cao su, nhựa, trong đó quan trọng nhất là ngành công nghiệp phụ trợ. Thế nhưng sau bao nhiêu “hoạch định” thì đây vẫn là con số không, tất cả có thể quy về chỗ thuế TTĐB nhằm giới hạn người dùng.

Không sử dụng ô tô người dân dùng xe máy và kèm theo đó là lối sống, tư duy xe máy khiến đô thì trở nên nhếch nhác, nỗ lực thế nào cũng không thay đổi được. Hãy thử hình dung, với người đi xe máy thì bán kính sinh hoạt sẽ giới hạn trong vòng 10km và tư duy đi ngang về tắt, luồn lách, tiện dụng sẽ kéo theo mô hình thương mại sát vỉa hè để phục vụ người đi xe máy. Trong khi đó thì không gian tư duy của người đi ô tô sẽ là 30km, họ sẵn sàng ở xa chỗ làm hơn 30km mà không hề bận tâm, đô thị vì thế mà sẽ dễ dàng mở rộng, kèm theo đó là tác phong ô tô, không đi ngang về tắt, không luồn lách, chịu gửi xe để đi bộ một quãng xa. Rõ ràng với chiếc ô tô việc tổ chức đô thị sẽ dễ dàng theo chuẩn hiện đại hơn nhiều so với xe máy.
Về xây dựng đường sá, chính số lượng ô tô sẽ khiến đầu tư dạng BOT vào cơ sở hạ tầng giao thông trở nên hấp dẫn hơn. Nhà nước sẽ nhẹ gánh hơn nhiều trong việc xây dựng thêm đường giao thông.
Tóm lại, mọi chuyện đều thuộc về chính sách của nhà nước. Một khi thấy ô tô là chưa cần thiết thì nó là chưa cần thiết. Còn khi thấy rằng sau khi áp dụng mọi biện pháp mà con số người chết vì tai nạn giao thông trên dưới 13.000 người mỗi năm vẫn không giảm thì chính sách ô tô cho mỗi người chắc chắn sẽ là lời giải hiệu quả.
Sử dụng ô tô người đi sẽ dẽ chấp hành đi theo luồng và luật giao thông hơn là xe máy


Và trên hết, có lẽ hãy vì chút sĩ diện, đừng để thế giới nhìn ta như một ốc đảo lạc hậu. Tôi không biết Cuba lập luận gì để đánh thuế xe ô tô lên đến 400-500%  khiến người dân phải cố sửa để dùng những chiếc ô tô từ thời 1960. Tôi cũng không biết động cơ sâu xa bên trong chúng ta có giống Cuba hay không nhưng rõ ràng sự giống nhau này khiến chúng ta xấu hổ. Mà đâu phải bỏ thuế TTĐB thì xã hội tê liệt đâu ? Cứ xem như Lào hoặc Campuchia, biết không mơ được chuyện sản xuất xe ô tô nên chính phủ chẳng đánh đồng thuế nào giúp người dân có xe vô cùng rẻ để đi. Có chết ai đâu ?
Hồ Trung Tú

Thứ Năm, ngày 26 tháng 9 năm 2013

Hữu cú vô cú - 有句無句 của Trần Nhân Tông

Thì ra thời Trần Nhân Tông người ta đã cãi nhau thế nào là CÓ thế nào là KHÔNG rất ghê. Ghé qua các Forum Phật giáo trên mạng thấy nhiều nơi treo hẳn cái bảng: "Miễn bình luận về Bát Nhã", "Mọi bàn luận về Bát Nhã sẽ bị xóa". Hi hi ... ai muỗn cãi nữa nhào zô :)



Chân dung Phật hoàng Trần Nhân Tông trong tranh Túc Lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ được vẽ năm 1360

有句無句 Hữu cú vô cú -
Nguyên văn chữ Hán Phiên âm Hán Việt

有句無句,Hữu cú vô cú,
藤枯樹倒。Đằng khô thụ đảo.
幾個衲僧,Kỷ cá nạp tăng,
撞頭嗑腦。Chàng đầu hạp não,

有句無句,Hữu cú vô cú,
體露金風。Thể lộ kim phong.
兢伽沙數,Căng già sa số.
犯刃傷鋒。Phạm nhẫn thương phong.

有句無句,Hữu cú vô cú
立宗立旨。Lập tông lập chỉ.
打瓦鑽龜,Đả ngõa toàn quy,
登山涉水。Đăng sơn thiệp thủy.

有句無句,Hữu cú vô cú,
非有非無。Phi hữu phi vô.
刻舟求劍,Khắc chu cầu kiếm,
索驥按圖。Sách ký án đồ.

有句無句,Hữu cú vô cú,
互不回互。Hỗ bất hồi hỗ.
笠雪鞋花,Lạp tuyết hài hoa,
守株待兔。Thủ chu đãi thố.

有句無句,Hữu cú vô cú,
自古自今。Tự cổ tự kim.
執指忘月,Chấp chỉ vong nguyệt,
平地陸沉。Bình địa lục trầm.

有句無句,Hữu cú vô cú,
如是如是。Như thị như thị.
八字打開,Bát tự đả khai,
全無巴鼻。Toàn vô ba tị.

有句無句,Hữu cú vô cú,
顧左顧右。Cố tả cố hữu.
阿刺刺地,A thích thích địa,
鬧聒聒地。Náo quát quát địa.

有句無句,Hữu cú vô cú,
忉忉怛怛。Điêu điêu đát đát.
截斷葛藤,Tiệt đoạn cát đằng,
彼此快活。Bỉ thử khoái hoạt.
----

DỊCH NGHĨA

Câu hữu câu vô,
Như cây đổ, dây leo héo khô.
Mấy gã thầy tăng,
Đập đầu mẻ trán.

Câu hữu câu vô,
Như thân thể lộ ra trước gió thu.
Vô số cát sông Hằng,
Phạm vào kiếm, bị thương vì mũi nhọn.

Câu hữu câu vô,
Lập công phái, ý chỉ.
Cũng là dùi rùa, đập ngói,
Trèo núi lội sông.

Câu hữu câu vô,
Chẳng phải hữu, chẳng phải vô,
Khác nào anh chàng khắc mạn thuyền mò gươm,
Theo tranh vẽ đi tìm ngựa ký.

Câu hữu câu vô,
Tác động qua lại với nhau.
Nón tuyết giày hoa,
Ôm gốc cây đợi thỏ.

Câu hữu câu vô,
Từ xưa đến nay,
Chỉ chấp ngón tay mà quên vầng trăng,
Thế là chết đuối trên đất bằng.

Câu hữu câu vô,
Như thế như thế!
Tám chữ mở ra rồi,
Hoàn toàn không còn điều gì lớn nữa.

Câu hữu câu vô,
Quay bên phải, ngoái bên trái.
Thuyết lý ầm ĩ,
Ồn ào tranh cãi.

Câu hữu câu vô,
Khiến người rầu rĩ.
Cắt đứt mọi duyên quấn quýt như dây leo,
Thì hữu và vô đều hoàn toàn thông suốt

Chủ Nhật, ngày 08 tháng 9 năm 2013

Bức tranh quá khứ qua góc nhìn phân kỳ


Liên hệ với nguồn sách địa chí hiện còn như Ô Châu cận lục, Phủ biên tạp lục, Đại Nam nhất thống chí và các tài liệu ký sự mới phát hiện như Quảng Nam phủ tập ký sự, các tư liệu gia tộc như gia phổ, trước thuật…, người đời sau có thể hình dung phần nào diện mạo lịch sử, xã hội, phong tục của nhiều thế kỷ trước ở vùng Trung Trung Bộ hiện nay. Tất cả các nguồn sử liệu đó cùng các thư tịch ngoài nước của Trung Hoa và người Pháp đã giúp Hồ Trung Tú dựng lại bức tranh quá khứ theo cách riêng của mình: Lý giải lịch sử qua góc nhìn phân kỳ, với cuốn “Có 500 năm như thế - bản sắc Quảng Nam từ góc nhìn phân kỳ lịch sử” (*) vừa xuất bản.


Cách phân kỳ lịch sử Nam tiến của Hồ Trung Tú khác với các sử gia Việt trước đó. Ông chú ý đến một số thời điểm đặc biệt và khai thác ý nghĩa của nó: đưa ra một cách phân kỳ để thử xác định ý nghĩa lịch sử và dấu ấn của mỗi giai đoạn mà nó để lại trên mỗi tiến trình lịch sử, qua đó có thể ít nhiều hiểu được, và thử dựng lại những gì đã xảy ra trong suốt 500 năm (từ đám cưới Huyền Trân (năm 1306) đến năm 1802 khi Gia Long lên ngôi. Tác giả đã có những đóng góp mới trong việc “xác định mốc thời gian của mỗi giai đoạn” (tr.11, Sđd) và nói rõ phần đóng góp của mình trong cách phân kỳ: “…Trước đây người ta chỉ nêu lên các mốc thời gian của mỗi sự kiện mà ít để ý đến quãng thời gian giữa hai sự kiện, trong khi điều đó là vô cùng quan trọng để sự tiếp thu, tiếp biến, giao lưu văn hóa diễn ra rồi hình thành và cố định một tính cách bền chắc, không chịu biến đổi trong các giai đoạn sau”.

Trong cuốn sách của mình, Hồ Trung Tú chưa một lần sử dụng từ “ky mi” mà sử xưa dùng để chỉ vùng đất “được cai trị lỏng lẻo” là Thuận Hóa và Quảng Nam (trước khi chúa Nguyễn Hoàng vào Nam), nhưng trong nhận xét về giai đoạn 300 năm (1306-1600) rõ là tác giả đã chú ý đến cái điều mà các sử gia trước đó chưa kịp thể hiện: “300 năm không chính quyền trên một vùng đất nhiều dân tộc mà các dân tộc này đã từng đánh nhau hoặc nhà nước của các dân tộc này đã từng đánh nhau chí tử suốt nhiều trăm năm trước đó. Điều gì đã xảy ra trong suốt 300 năm ấy?” (tr.12). Trên cơ sở 300 năm đó, tác giả đã mở rộng cái nhìn phân kỳ của mình đến 1802 (năm vua Gia Long lên ngôi) để đi đến khái quát “đã có 500 năm đằng đẵng để hoàn thành một cuộc hòa nhập”. Và những mốc của cuộc “hòa nhập khó diễn tả hết” ấy được nêu lên như những “lát cắt lịch sử” mà trong đó lát cắt 1671 phải được ghi nhận như là một phát hiện độc đáo của tác giả. Chính lát cắt “lũy Trường Dục” khiến “Trong, Ngoài bất tương thông” đó đã là cơ sở cho Đàng Trong hình thành một bản sắc rạch ròi tách biệt khỏi những ảnh hưởng của Đàng Ngoài để tự thân hòa nhập với văn hóa bản địa trong quá trình mở rộng về phương Nam. Lát cắt đó cùng những lát cắt lịch sử khác trong khoảng 500 năm đã làm nền cho sự phân kỳ; giúp Hồ Trung Tú có cái nhìn thấu suốt và biện chứng để từ giải các hiện tượng văn hóa, xã hội độc đáo của xứ Đàng Trong - mà thổ âm Quảng Nam là một ví dụ.

Có lẽ, sau 40 năm kể từ khi cuốn “Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam” của Bình Nguyên Lộc ra đời, chưa có một cuốn sách nào thuộc dạng này đã truyền một cảm hứng mạnh mẽ cho người đọc đến vậy. Cảm hứng nhà văn đã khiến cho cuốn sách trở nên hứng thú; nhưng cảm hứng đó cũng là một nhược điểm đối với việc khai thác một vấn đề có tầm “luận án” như thế này. Hồ Trung Tú đã đi vào con đường mà Kim Định, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Văn Xuân… đã từng đi: đó là “trực nhận” và “tiên nghiệm” trước khi cố gắng chứng minh đầy đủ.Dù tự nhận mình người “không chuyên về ngôn ngữ học” và cũng khiêm tốn đưa ra một số dẫn chứng vừa đủ trong rất nhiều sách nghiên cứu về ngôn ngữ mà chắc chắn tác giả phải đọc qua, nhưng những giả thuyết về “nguồn gốc bản sắc tiếng nói từng khu vực xứ Quảng” cùng những giả thiết về “nguồn gốc của những vùng lõm ngôn ngữ đặc biệt” như Cao Lao Hạ, Mỹ Lợi trong ngôn ngữ khu vực Bắc Trung Bộ đã thật sự hấp dẫn người đọc. Những phát hiện và giả thuyết trên giúp tác giả - bất chấp sự dè dặt thông thường - mạnh dạn nêu lên vấn đề sự tự hòa nhập và hòa tan của một bộ phận dân tộc, một nền văn minh với một dân tộc, một nền văn minh khác trong điều kiện đặc thù của “500 năm như thế!”. Tất cả các cố gắng của Hồ Trung Tú từ việc đưa ra các kiến giải về “Vấn đề thế hệ ”, “Vấn đề địa giới”, vấn đề “Người Chàm ở lại”, “Giọng nói người Quảng Nam” rõ là nhằm chứng minh cho điều quan trọng đã nói trên. Dẫn chứng được vận dụng trong thư tịch và từ kết quả điền dã vừa đủ để giúp tác giả chứng minh cho những gì mình đã phát hiện và nêu giả thuyết. 
PHÚ BÌNH

Thứ Hai, ngày 19 tháng 8 năm 2013

"NGƯỜI RỪNG" - NHÌN TỪ CHÍNH SÁCH ĐỊNH CANH ĐỊNH CƯ.

Anh Hồ Văn Lang ngơ ngác lúc bước ra khỏi rừng. (ảnh Internet)

Có lẽ sẽ không bao giờ chúng ta biết được lý do thực sự khiến cha con ông Hồ Văn Thanh trở thành “Người rừng”. Ông đã già yếu, khó mà phục hồi trở khỏe mạnh, lại không buồn nói; anh Lang thì chắc cũng không biết cha mình đã nghĩ gì khi mang anh vô rừng nên khai thác họ để hiểu là chuyện gần như không thể. Trên mạng và các báo cũng đã có quá nhiều phỏng đoán, nào là kinh sợ chiến tranh, người giữa hai làn đạn, muốn tránh xa loài người bạc bẽo, mặc cảm tội lỗi nào đó với tổ chức, cộng đồng... Tất cả đều có thể, thế nhưng theo tôi, nếu soi chiếu điều này với các bản người Rục ở Quảng Bình vừa nóng trên các mặt báo cách nay hơn năm vì nạn đói ở nơi ở mới, ta sẽ hiểu vấn đề một cách căn cơ hơn nhiều.

Hầu như tất cả các dân tộc sống dọc dải Trường Sơn đều du canh du cư suốt nhiều ngàn năm qua. Đó là một lựa chọn khôn ngoan vì khi mà nền bản đã lầy ra bởi chất thải của người và gia súc thì cần phải bỏ nó để đi tìm một chỗ ở mới, nếu không sẽ rất dễ nhiễm bệnh. Việc canh tác và săn bắn tìm nguồn đạm cũng vậy, khi các rẫy đã bạc màu thì người ta đi tìm rẫy khác; khi các con suối đã cạn cá, thú rừng cũng bỏ chạy xa thì người ta lại đi tìm một chỗ ở mới. Tất cả như được bắt đầu lại từ đầu, cứ 3-4 năm thì tất cả lại sach sẽ tinh tươm như mới.

Một góc nhà định canh định cư của người Rục đã được biến thành một góc hang theo thoi quen họ họ đã sống từ hàng ngàn năm qua. Bình thường khi góc hang này bẩn người ta sẽ đi tìm chỗ ở mới. Nay thì không ! (ảnh Dương Minh Phong).


Nhưng kể từ ngày nhà nước ta ra chủ trương định canh định cư cho đồng bào miền núi thì mọi chuyện đã khác. Đồng bào được vận động xuống thấp, tập trung ở những thung lũng, xếp vô ở những căn nhà xây lợp tôn hoặc ngói và trồng lúa nước. Vì không thấu hiểu sự ưu việt và những hạt nhân hợp lý khá khoa học từ ngàn năm qua của lối sống du canh du cư nên phần lớn các cơ quan phụ trách việc này nghĩ như vậy là xong: Tổ chức cho bà con trồng lúa nước và ở nhà xây. Họ quên rằng nguồn đạm mới là thứ quyết định nhất trong khẩu phần người miền núi. Có thịt thì một nồi súp với củ mì (củ sắn) cũng vẫn cứ bổ dưỡng và ngon miệng hơn là nồi cơm trắng ăn với muối ớt! Không có thịt sức khỏe những đứa trẻ như suy sụp hẳn. Heo thì cũng dành cho dịp lễ tết, cúng cơm mới. Gà thì cả đàn nhưng có hôm sáng ra chẳng còn con nào vì dịch bệnh. Đó là chưa nói do tập quan cũ, heo gà sống chung với người nên chẳng mấy hôm nhưng khu nhà định cư trở nên lầy bẩn không thể chịu được.

Bữa ăn của người Rục trong loại bài “Người Rục đang đói” của Dương Minh Phong tháng 10 năm 2011, ta hiểu nếu thêm vào đây chút thịt chút cá thì sẽ ngon và bổ hơn là được ha được ăn cơm trăng nhưng chỉ với muối ớt. (ảnh Dương Minh Phong).

Xem ảnh của nhà báo Dương Minh Phong kể chuyện người Rục ở Quảng Bình dang đói trong những căn nhà xây định cư chúng ta hiểu trong những năm thuộc thập kỷ 80 ở thế kỷ trước cũng y như vậy ở các huyện miền núi Quảng Nam, Quảng Ngãi. Và chuyện tất nhiên đã xảy ra, một số người quay lại làng cũ để sống cuộc đời du canh du cư nhưng trẻ con lớn lên sạch sẽ, khỏe mạnh! Muốn hỏi nhà báo Dương Minh Phong là liệu đã có người Rục nào bỏ vào lại rừng sâu chưa? Tôi tin là đã có, và họ đang là “người rừng” lang thang đâu đó chưa được phát hiện ra thôi.

Hãy thử hình dung đi, cả một đời bạn sống dưới tán rừng già, rừng đủ nuôi sống bạn khỏe mạnh, nay bỗng chốc bạn bị lôi ra ở nơi trống hoang trống huếch, trong căn nhà xây dưới mái tôn. Tìm trái ớt đốt mía cũng không ra thì bạn có nhớ về nơi ở cũ? Nhiều người đã dần thích nghi và chỉ cần một hai năm thì đã có được cuộc sống mới với những phong tục mới. Thế nhưng một số người thì không, bao giờ và ở đâu cũng vậy, họ luôn là số ít, họ nhạy cảm, họ không thay đổi lối sống được.  

Người viết bài này đã từng theo đoàn cán bộ huyện Phước Sơn, một huyện miền núi nằm dưới chân núi Ngọc Linh cao hơn 2.000 mét, lặn lội vào rừng sâu để vận động bà con trở về lại nơi ở mới trong những năm trước sau 1980. Nhìn căn nhà sàn họ mới dựng lên giữa rừng sâu, phên nứa mới toanh, dàn bếp chưa ám khói, trên đó thịt thú rừng hong khói treo lủng lẳng, góc bếp thì quả cà quả mướp cũng tươi xanh... tôi chợt hiểu tại sao họ đã từ bỏ căn nhà xi măng lợp tôn nóng hầm và lầy lội, phân heo phân gà quanh chỗ nằm ngủ ở khu định cư để về lại chốn rừng sâu này.

Dọc dải trường Sơn còn bao nhiêu người chọn cách sống du canh du cư cũ? Tôi tin rằng còn nhiều lắm chỉ có điều chúng ta chưa biết đến thôi. Chỉ có điều không hiểu là tại sao cha con ông Thanh đã chọn một lối sống cực đoan hơn những người không chịu định canh định cư khác; về bản cũ, ở không xa bản mới lắm, chỉ 4 tiếng đi bộ tức chỉ chừng 15km đường rừng nhưng không hiểu sao vẻ mặt anh Lang khi bước ra khỏi rừng khiến chúng ta đau xót. Anh ngơ ngác và như hoàn toàn không biết đến thế giới loài người. Có thể chỉ đơn giản là quá nhiều người muốn bắt anh về và hai cha con anh đã phải liên tục bỏ trốn. Hơn nữa, một tuổi thơ không bóng người nó sẽ quyết định tất cả phần đời còn lại. Tuổi thơ anh Lang, giai đoạn sau 1975, hoàn toàn có đủ điều kiện để anh cả chục năm không tiếp xúc với ai cả.

Trước khi nghĩ đến một điều gì đó đầy kịch tính, nhuốm màu tiểu thuyết thì hãy nhìn bối cảnh lịch sử cũng như không gian xã hội thời đại lúc xảy ra câu chuyện. Đem góc nhìn, quan điểm, cặp mắt bây giờ để nhìn mọi chuyện ta sẽ không bao giờ hiểu được tại sao lại có thể như vậy.
 Hồ Trung Tú 




Thứ Sáu, ngày 02 tháng 8 năm 2013

Hiểu khái niệm “Trang thông tin điện tử cá nhân” thế nào cho đúng ?

Câu trong Nghị định 72: “trang thông tin điện tử cá nhân… không cung cấp thông tin tổng hợp” nhiều người đã tham gia định nghĩa khái niệm thế nào là “cung cấp thông tin tổng hợp” và chỉ ra việc cần phải xác định rõ đâu là ranh giới của việc dẫn link, khác nhau giữa trích dẫn và toàn văn  để bảo vệ quyền tác giả... không nói nữa, ở đây chỉ xin bàn đến các cách hiểu về “trang thông tin điện tử cá nhân”.

Thứ Ba, ngày 25 tháng 6 năm 2013

Lẽ ra tòa nhà Quốc hội cũng sẽ có cái view như thế này.


Thấy ảnh này của Anh Gấu Phạm chụp ông McCain đích thân đưa cả đoàn quân đội VN đi thăn điện Capitol ngày 20/6/2013, mình lại tiếc cái dự án xây nhà Quốc hội trên sường đồi Ba Vì nhìn về Hồ Tây; nếu thành hiện thực, nó cũng sẽ có cái view nhìn cả giang sơn như thế này.

Thứ Hai, ngày 24 tháng 6 năm 2013

Có ngôi sao mang tên cô gái Việt


Một bài báo cũ, đọc lại thấy khả năng diễn nôm các khái niệm vật lý thiên văn khá phức tạp của mình khá chuẩn :)

Thắc mắc về chuyện tại sao NASA lại tốn nhiều công sức và tiền bạc đến như vậy để thực hiện cho được việc bắn phá sao chổi Tempel vào ngày 4.7.2005 đã khiến tôi vào internet tìm kiếm thông tin, và bất ngờ phát hiện ra một điều lý thú: trên bầu trời đêm có một ngôi sao lấp lánh ở đâu đó mang tên “5430 Luu” - tên của một nhà thiên văn nữ người Mỹ gốc Việt.
Nhà thiên văn Jane Lưu ở Trung tâm vật lý thiên văn Smithsonian thuộc Đại học Harvard.
Nhà thiên văn David Jewitt vào năm 1992 đã cùng với Jane Lưu phát hiện ra thiên thể đầu tiên chứng minh được sự tồn tại của vành đai Kuiper ngoài rìa Thái dương hệ vốn trước đó chỉ tồn tại trên lý thuyết từ năm 1951.
Nhà thiên văn học Hà Lan Gerard Kuiper (1905-1973) từ năm 1951 đã đưa ra lý thuyết về sự tồn tại của vành đai thiên thể ngoài rìa Thái dương hệ sau này, được mang tên ông - vành đai Kuiper. Nhưng phải chờ đến phát hiện của Jane Lưu và David Jewitt năm 1992 thì lý thuyết của Kuiper mới được chứng minh.
Những thiên thạch đủ kích cỡ lớn nhỏ trong vành đai Kuiper

Thứ Sáu, ngày 14 tháng 6 năm 2013

Cận cảnh mặt đường vụ tai nạn của xe khách Mai Linh ở Quảng Nam

Liên tiếp các vụ tai nạn xe khách nghiêm trọng làm chết và bị thương nhiều người.  TS Khuất Việt Hùng – Quyền Vụ trưởng Vụ Vận tải (Bộ GTVT) đã có cuộc trả lời phỏng vấn trên VTV trong bản tin thơi sự tối 19g ngày 10.6.2013, ông Hùng nhận định: “Những vụ tai nạn giao thông thảm khốc này nếu phân tích ra thì sẽ thấy nhiều nguyên nhân,tuy nhiên có một điểm chung nổi lên ở đây đó là hành vi chạy xe với tốc độ quá cao”. 
(Xem video cuộc trả lời phỏng vấn này ở link: http://vtv.vn/video-clip/131/Thoi-su/category44/Thoi-su-19h-10062013/video10347.vtv phút 18:00)

Quyền Vụ trưởng Vị Vận tải Khuất Việt Hùng trả lời phỏng vấn VTV thời sự 19g ngày 10.6.2013



Riêng vụ tai nạn của xe khách Mai Linh ở Quảng Nam ông Hùng nhận định: “Thí dụ như vụ xe lật ở Quảng Nam, trước khi bị lật thì lái xe chạy với tốc độ 77km/giờ (quá tốc độ cho phép 7km/giờ), và đoạn này là đường cong, mà về nguyên tắc gặp đường cong thì phải giảm tốc độ; rồi vụ tai nạn thương tâm xảy ra ở Bà Rịa – Vũng Tàu… tất cả đều xuất phát từ việc lái xe chạy quá tốc độ”.

Trở lại hiện trường vụ tai nạn này chúng tôi thấy đoạn đường này không hề cong như ông Hùng nói và chợt nhận ra nhiều điều có thể là nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn này.


Đoạn đường tránh thị trấn Vĩnh Điện nối tiếp với cầu Câu Lâu mới có độ dài gần 10km được thế kế theo chuẩn tốt nhất hiện này. Tuy chưa phải là đường cao tốc nhưng hai bên đều có rào chắn, mặt đường rộng cho phép xe chạy với tốc độ tối đa theo quy định hiện nay. Thế nhưng , mặc dù mới được đưa vào sử dụng từ sau 2005 đến nay nhưng không hiểu sao đường tuy không có ổ gà ổ voi nhưng mặt đường rất xấu, nhiều mấp mô, lượn sóng, mặt đường nhựa xô lệch, lồi lõm. Thế nhưng trên suốt đoạn đường này không hề thấy biển báo đường xấu, giảm tốc hoặc giới hạn tốc độ. Nếu tài xế không chú ý, hoặc hoàn tin vào việc không biển báo sẽ không kịp giảm tốc sẽ rất nguy hiểm một khi lao qua những chỗ đường xấu này. Vài tấm hình dưới đây sẽ giúp bạn đọc nhận rõ phần nào đó nguyên nhân vụ tai nạn này và sự chính xác của người có trách nhiệm của Vụ trưởng vụ Vận tải Khuất Việt Hùng. 

ảnh 1: Một vị trí đường xấu, lún, nhựa xô lệch điển hình

ảnh 2: Nhìn vào hai vệt rào chắn hai bên ta sẽ hình dung mặt đường lượn sóng biến dạng so với thiết kế ban đầu như thế nào.

ảnh 3: Xe Mai Linh khi qua khỏi mố cầu này chừng 40m thì đến vị trí xe ca trong ảnh và rơi xuống taluy bên phải. Rõ ràng đường không cong không quẹo gì cả và cũng không cần giảm tốc độ như ông Hùng nói. 

ảnh 4: Ở góc nhìn ngược lại, vị trí đứng chụp ảnh là vị trí xe lật nhìn lại mặt đường vừa chạy qua ta sẽ thấy mặt đường lượn sóng rõ.

ảnh 5: Và đây là góc nhìn cận hơn sự lượn sóng này. Trong ảnh là xa ca 1 tầng, hãy hình dung xe khách giường nằm 2 tầng cao lênh khênh chạy vận tốc 70km/giờ qua chỗ mấp mô lượn sóng đó mà tài xế không kịp đạp thằng!  Khi qua mặt đường thế này chừng hơn 30m thì xe lật thì trách nhiệm mặt đường chiếm bao nhiêu phần trăm ? Câu hỏi này xin được đặt ra cho Quyền Vụ trưởng Khuất Việt Hùng. Đổ lỗi hết cho lái xe mà không thấy phần trách nhiệm của cơ sở hạ tầng, những cái bẫy trên mặt đường như thế này là điều không chỉ không nên mà là nguy hiểm vì hàng ngày có hàng vạn xe đi qua những chỗ như thế.

ảnh 6: Và một bức ảnh nữa để hình dung những gì xảy ra lúc 5giờ sáng đau thương ấy.

Thứ Ba, ngày 16 tháng 4 năm 2013

BỤI ĐỜI CHỢ LỚN. TRUYỆN TRANH. VÀ CON CỌP Ở CHỢ.





Nhà Phật có câu chuyện thế này: Một cậu bé bị bỏ rơi được sư thầy nhặt được mang lên núi sống cuộc đời tu hành thanh đạm, không vướng một chút bụi trần. Và sư thầy nghĩ cậu bé có duyên, có phước lắm mới được như thế này chứ không thì ô nhiễm cuộc sống trần gian đến bao giờ mới tẩy rửa được. Đến tuổi trưởng thành, nhận thấy cậu bé, giờ đã là một chàng trai, suốt ngày miệng mỉm cười cho thấy tâm chàng không loạn động hay ưu phiền lo nghĩ chuyện gì, sư thầy dẫn cậu xuống núi để nhìn thấy người đời. Xuống núi, vào chợ thấy gì chàng trai cũng hỏi, đây là con gà, kia là con vịt, chiếc xe sao lại chạy được; đến thấy người đàn bà chàng hỏi con gì đây, sư thầy bảo đó là người đàn bà, bà có thể sinh ra những đứa bé mới để cuộc sống được tiếp tục mãi. Trong đầu chàng trai đã khởi niềm nghi không hiểu làm sao mà người đàn bà có thể sinh ra những đứa bé được. Đến gặp một cô gái, cô gái mỉn cười với chàng trai tuấn tú, mặt mũi sáng rỡ vì tâm trong sạch. Chàng tai hỏi thầy đây là con gì mà nó cười trông đẹp quá thầy ạ. Thấy có vẻ không an toàn sư thầy bảo: Đó là con cọp ở chợ. Con cọp trên núi hung dữ ăn thịt người thế nào thì con cọn ở chợ cũng ăn thịt người như thế con ạ, hãy tránh xa nó ra! Về lại núi, nụ cười như tắt trên môi chàng trai, trông chàng buồn rầu, ưu phiền hẳn. Sư thầy mới hỏi, chàng trai trả lời: Con nhớ con cọp ở chợ!


Thứ Bảy, ngày 13 tháng 4 năm 2013

Một bài đáng suy ngẫm của Liam Kelley

http://leminhkhai.wordpress.com/2013/04/10/the-excuse-of-khong-co-gi-moi/
Bản dịch của TS Vũ Thị Phương Anh:

LỜI BIỆN HỘ “KHÔNG CÓ GÌ MỚI”
Liam Kelley


Tôi có một phát hiện

Bất cứ khi nào các học giả VN phải đối diện với những ý tưởng khác biệt với những điều được xem là chính thống ở VN, là họ lại đưa ra nhận xét rằng điều đó “không có gì mới”.

Gần đây hình như tôi đã viết về điều đó ở trên blog này khi tôi nói về những nhận xét của DTQ về cuốn Bên thắng cuộc của Huy Đức. Nhưng những nhận xét tương tự như vậy tôi cũng được nghe mỗi khi tôi nêu ra một điều gì, hoặc bất kỳ ai khác có nêu ra một điều gì không giống với những điều mà hệ thống chấp nhận.

OK, nếu nhận xét “không có gì mới” là một cách đưa ra lời phê bình về mặt học thuật, thì những người đưa ra lời phê bình ấy chắc phải có hàm ý rằng ở VN có những điều thực sự mới mẻ về mặt học thuật. Vậy, điều mới mẻ về mặt học thuật ấy ở đâu? Những học giả VN đã đưa ra những điều mới mẻ về mặt học thuật ấy là ai thế? Tên các tác phẩm của họ là gì? Vì quả thật tôi không hề biết đến những tác phẩm đã được viết ra và đáng được xem là “mới” này.


Mà điều gì đã làm cho những tác phẩm này được xem là “mới” nhỉ? Phải chăng đó là các tác phẩm đã sử dụng những phương pháp hiện đại để tạo ra một cách nhìn mới về quá khứ, như những học giả Ấn Độ đã làm khi nghiên cứu “giai cấp cùng đinh”*? Nếu vậy, những lập luận mà các học giả VN đã tạo ra từ những phương pháp hiện đại mới mẻ này là gì thế?


Khi đưa ra nhận xét “không có gì mới”, phải chăng các học giả VN nghĩ rằng họ là những thành viên bình đẳng của thế giới học thuật toàn cầu (và trong bối cảnh ấy họ có thể đưa ra nhận xét về giá trị học thuật của các tác phẩm của người khác)? Nếu vậy, những tác phẩm nào của họ có thể đưa ra để so sánh với những tác phẩm đã được viết ra tại các quốc gia khác trong nhiều thập kỷ vừa qua? Điều gì đã cho phép một học giả VN cái quyền phê phán tác phẩm của người khác bằng nhận xét “không có gì mới”?


Có lý do chính đáng nào (về mặt học thuật) khiến tôi cứ phải nghe mãi lời nhận xét này không? Hay đó chỉ là một phản ứng cảm tính được thốt ra trong tâm trạng mặc cảm? Nếu quả thật là có lý do thì xin hãy chỉ ra những chứng cứ khoa học cho thấy nhận xét ấy là đúng (ví dụ, đã có ai viết ra được cái gì có thể xem là "cạnh tranh" được với HĐ hay không?) Còn nếu đó là do mặc cảm, thì mọi người hãy dừng lại đừng chỉ phê phán người khác như thế mà hãy lo đi nghiên cứu để tạo ra những gì thực sự là "mới" đi. Như thế thì được cả đôi bên đấy!

Theo như tôi biết thì lời nhận xét “không có gì mới” chẳng qua chỉ là một cách để các học giả VN tự biện hộ cho sự tầm thường hiện có của mình mà thôi. Nhưng thực ra chẳng có cách nào biện hộ cho sự tầm thường được, vì không có gì có thể cản trở chúng ta đạt đến đỉnh cao

----
*Ghi chú của người dịch: “subaltern studies” là một thuật ngữ của ngành lịch sử/nhân học/văn hóa học, không rõ được dịch ra tiếng Việt là gì, người dịch không phải chuyên ngành nên dịch tạm vậy, ai có nghề xin sửa giúp nhé. Có thể tham khảo ở đây: http://en.wikipedia.org/wiki/Subaltern_(postcolonialism)

Thứ Bảy, ngày 09 tháng 3 năm 2013

Ai trách nhiệm với kiểu giao thông nhắm thẳng vào nhau mà tiến ?


Tai nạn giao thông thương tâm ở Khánh Hòa một lần nữa cho thấy quốc lộ 1A là quá hẹp, đó là kiểu giao thông hướng thẳng vào nhau mà tiến. Đây là trách nhiệm của chính phủ, bao nhiêu chục năm rồi mà không tách được hai chiều ngược nhau ra trên tuyến đường huyết mạch này, chứ không phải ý thức giao thông của tài xế, VTV đừng đổ hết lỗi cho họ như thế! Thử hỏi có tài xế nào vô ý thức đến độ xem mạng mình như cỏ rác vậy không ? Với lưu lượng xe trên quốc lộ 1A đông đúc như hiện nay cần phải thấy tai nạn như vậy là ít, tài xế đã ý thức cao lắm rồi khi đi trên con đường này.
Bao nhiêu chục năm rồi, bao nhiêu dự án lớn dự án khổng lồ rồi nhưng quốc lộ 1A vẫn kiểu giao thông nhắm thẳng vào nhau mà tiến. Không ai thấy có lỗi hay sao ?





Ảnh VnExpress

Thứ Ba, ngày 05 tháng 3 năm 2013

"Có 500 năm như thế": Một cuốn sách rất kích thích tư duy !

Review của bạn đọc2 Đặng Thái Hòa. Có những ý rất lạ :)

*
Cô nhân viên cũ của em hiện đang ở Đà Nẵng có 1 tin nhắn thế này: Anh đã đọc “Có 500 năm như thế” chưa? Một cuốn sách "hay kinh hoàng", và "không hề nhức đầu". Lý do là, khi bạn này đọc đến đâu thì kiểm chứng với ông nội đến đó; tất cả đều được xác nhận là đúng ! Cố ấy không hay là em đọc rồi và đang nghĩ đến viết review sách này.Nếu nói hiểu thì có lẽ làm cái nghề nghiên cứu liên quan đến lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ thì mới hiểu. Nhưng mà em thích cách đặt vấn đề và phương pháp của bác. Đọc vào rất kích thích tư duy!
 (Ảnh của bác Sao Hồng chụp một quầy sách ở Nha Trang)
Tình cờ dắt mấy ku con đi nhà sách, cho tụi nó đọc sách tại chỗ, em cũng lẩn thẩn cầm vài cuốn lật chơi. Đọc hết phần dẫn nhập của cuốn Có 500 Năm thì em quyết định sẽ mua đem về. Em đọc hết cuốn sách của anh sau 3 ngày; bây giờ quyết định gấp lại cho đầu óc bớt rối để điểm lại các luận điểm cũng như bằng chứng anh đưa ra trước khi sẽ đọc kỹ lại 1 lần nữa.Và đây là những cảm nhận ban đầu:

1. Tự thách thức luận điểm chung để đẩy vấn đề xa hơn, rồi lại tự thách thức những khám phá ấy để chẻ vấn đề thành những phân mảnh nhỏ. Lộ trình lý giải vấn đề để anh dẫn dắt người đọc đến mô hình da báo của các làng Việt, Chăm rất thú vị. Chưa đủ trình độ để có thể "soi mói" các lập luận và chứng cứ anh đưa ra, bản thân việc bám theo anh trên lộ trình ấy đã là 1 cảm xúc rất kích thích.

2. Việc phân tích các bộ gia phả quý để tính toán số năm trung bình của 1 thế hệ mang dáng dấp của phương pháp phân tích định lượng phương Tây. Chỗ này thì em hoàn toàn bất lực, chỉ đọc lướt, nhưng sẽ đọc kỹ lại khi bình tĩnh. Điều thú vị về chỗ mà 1 vài ý kiến review sách của anh, mà em đọc được trên mạng, cho là 'táo bạo', thì em cho là 'hứa hẹn' ở chỗ nó mở ra cơ hội 1 ngày nào đó sẽ 1 chuyên gia thống kê giúp anh đào xới lại phần này bằng phương pháp định lượng, để không ai có thể chối cãi được. Ứng dụng thông kê vào nghiên cứu văn hóa - ý tưởng này, tự thân nó đã là 1 công trình nghiên cứu khoa học lớn.

Anh cho em hỏi thêm câu hỏi có lẽ ai cũng sẽ nghĩ đến:Liệu phương pháp này, nếu mở rộng không gian nghiên cứu, có dẫn đưa chúng ta đến những lý giải cho giọng Sài Gòn và miền Tây hay không, nếu chỉ gói gọn phạm vi nghiên cứu trong phương ngữ, chứ chưa kể đến phạm trù rộng hơn là "bản sắc". Và ngay cả ở Bắc và Bắc Trung bộ cũng vậy, cứ một vài trăm kilomet ta lại có một vùng phương ngữ khác hẳn nhau. Hà Nội – Thanh Hóa – Vinh ! Trong sách của anh đâu đó hình như có gợi mở ra hướng này thì phải ?

Sau mỗi lần lấn đất, hoặc bằng tương quan vũ lực hoặc bằng tương quan hữu nghị, thì dân Việt di cư vào Nam. Ho không đánh đuổi hoặc chiếm đất mà đến nơi người Chàm không ở để định cư, và phần nhiều vẫn ở lại cùng chung sống với dân Việt mới đến. Họ đã ở cạnh nhau suốt 500 như thế ! Các luồng di dân không liên tục mà bị đứt đoạn trong suốt chiều dài 500 năm đó. Mỗi lần đứt đoạn, vì lý do chiến tranh, thời kỳ ngăn sông cấm chợ kéo dài có giai đoạn 60 năm, có giai đoạn 100 năm, có giai đoạn 200 năm. Ngần ấy thời gian đủ để các di dân mới hòa nhập sâu hơn với cộng đồng bản địa, sinh ra các thế hệ lai có đặc điểm riêng về phương ngữ và văn hóa không giống với các lớp di dân mới sau này.

Một khía cạnh khác là mỗi lớp di dân mới chồng lên lớp cũ lại đến từ nhiều nguồn khác nhau: khi là dân cư đồng bằng sông Hồng vào Nam, khi thì dân Thanh - Nghệ. Mỗi lớp / luồng di dân đó lại nhắm đến 1 khu vực địa lý khác biệt, càng về sau càng tiến về phía Nam theo tiến trình lấn đất của người Việt sâu vào địa bàn của Chăm pa.

Ba yếu tố đó: (1). Sự đứt đoạn giữa các luồng di dân, (2). Đặc điểm khác biệt của từng lớp di dân & (3). Sự phân bổ địa bàn định cư của di dân Việt trong suốt tiến trình lịch sử hình thành các vùng phương ngữ khác biệt: Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, v.v...Điều quan tâm lớn nhất của Hồ Trung Tú là lý giải: (1). Sự khác biệt của Quảng Nam (nằm trên con đường huyết mạch của các luồng di dân) so với Huế & so với các địa phương sâu về phía Nam như từ Bình Định trở vào, (2). Sự khác biệt phương ngữ ngay tại Quảng Nam, hoặc ngay tại Huế & (3). Sự tương đồng phương ngữ của 1 số làng tại Quảng Nam so với Huế và ngược lại.

Các tài liệu và nghiên cứu trước đó chỉ tóm gọn 1 cuộc giao thoa vài trăm năm giữa Việt và Chăm, gọn đến mức dường như không quan tâm đến các yếu tố hình thành do sự phân kỳ lịch sử mở rộng biên giới Đại Việt về phía Nam, cũng như các sự kiện quan sát được ngay trong ngày hôm nay, vốn là hệ quả để lại của sự phân kỳ đó trong quá khứ. Chỉ riêng với sự phân kỳ này, phân kỳ tác động chứ không phải chỉ là sự phân chia thời gian theo đặc điểm thường thấy, tác giả Hồ Trung Tú đã cung cấp một công cụ quan trọng giúp chúng ta hình dung rõ hơn những gì đã xảy ra ở nơi mà không có bất cứ dòng lịch sử nào được ghi chép.

Đặng Thái Hòa


Thứ Bảy, ngày 02 tháng 3 năm 2013

Mùa ốc gạo

Thấy tấm ảnh này trên trang của Le Van Thinh nhớ đến bài này nhưng tìm mãi trên mạng không ra. Hay là viết xong nhưng chưa in ở đâu chăng? In ở đây vậy. Mọi người đọc xả xì trét :)

Chủ Nhật, ngày 20 tháng 1 năm 2013

Lời bình tác phẩm "Có 500 năm như thế" của một giáo sư sử học Mỹ .

One of the most important books written about the history of North America in recent decades is Richard White’s The Middle Ground: Indians, Empires, and Republics in the Great Lakes Region, 1650-1815. What this book did that was so important is that it examined the contact between Native Americans (or “Indians”) and white settlers (French, British, etc.) in one area of North America over a period of a couple of centuries, and explained that interaction in much more complex and sophisticated terms than anyone had before.
mid ground
To quote from the back cover, the book “seeks to step outside the simple stories of Indian/white relations – stories of conquest and assimilation and stories of cultural persistence. It is, instead, about a search for accommodation and common meaning.”
“It tells how Europeans and Indians met, regarding each other as alien, as virtually nonhuman, and how between 1650 and 1815 they constructed a common, mutually comprehensible world in the region around the Great Lakes. . . Here the older worlds of the Algonquins and various Europeans overlapped, and their mixture created new systems of meaning and of exchange.”
“Finally, the book tells of the breakdown of accommodation and common meanings and the re-creation of the Indians as alien and exotic.”
In other words, White depicts a time when Native Americans and white settlers didn’t really understand or like each other, but nonetheless found ways to live with each other (although plenty of problems and violence persisted), and created a shared world.
500
I’ve been reminded of White’s book recently as I have been reading a work by Hồ Trung Tú called Có 500 năm như thế: hình dung sự hình thành bản sắc Quảng Nam [There Were 500 Years Like That: Picturing the Formation of the Characteristics of Quảng Nam].
This book covers a lot of ground. It looks in detail, for instance, at the “Southern Advance” (Nam tiến), or southward migration of Việt-speaking peoples over the centuries, and points out that it was really much more complex than a smooth southward movement like that term implies.
This critique of the Nam tiến is one that many people are familiar with. What people will find that is refreshing in this book is its effort to keep the Cham in the picture of the Nam tiến.
There are some scholars outside of Vietnam who have written about the southward movement of Việt peoples and have talked about how the Việt changed as they adopted cultural practices from people like the Cham and the Khmer. In making this argument, however, these writers have focused on the Việt. We never really see the Cham very clearly. They are simply there somewhere for the Việt to assimilate things from.
On the other extreme, Hồ Trung Tú criticizes scholars in Vietnam who make the same argument about Việt adoption of the cultural practices of others, but who describe a process where Việt migrate into areas that people like the Cham have abandoned (after a war, for instance). Here again, the Cham are acknowledged, but they are still not really there in the story.
cham ruins
Hồ Trung Tú, by contrast, tries to keep the Cham in the picture, and tries to document their continued presence in areas that Việt migrated into/occupied. He also points out, for instance, that there were periods of time when in Quảng Nam the Việt were a minority living amidst a Cham majority, and that we therefore have to think about what kind of interactions took place in such locations at such times.
In a long section on language, one intriguing argument that Hồ Trung Tú makes is that the reason why the version of Vietnamese spoken in the Quảng Nam region is so different from the Vietnamese just on the other side of the Hải Vân Pass might be because the Vietnamese in Quảng Nam is “Chamicized” (I’m inventing this term here), namely, that it resembles the Vietnamese that was spoken by people whose native language was Cham.
I’m not a linguist and have no way of verifying this view (for a positive review [in Vietnamese] of this work by a linguist, however, click here), but what I do like about this point is that it makes us think about Cham-Việt relations in complex ways. In what context would such a new version of a language appear? The explanations about the Nam tiến to date (where the Việt adopt Cham practices) cannot explain why the Việt would end up speaking Vietnamese the way that some Cham did.
To explain that we need a more complex understanding of the history of Cham-Việt relations than one that sees a uni-directional process of Việt moving southward and assimilating cultural elements from other peoples.
barrow
Hồ Trung Tú’s Có 500 năm như thế thus does a good job of pointing out the need to think about the Nam tiến and Cham-Việt relations in more complex ways, and the ideas it offers get the reader thinking about these issues.
And as I reflect upon these issues while reading this book, I keep thinking of White’s Middle Ground. If you changed a few words on the back cover of that book, it could probably describe the history of Cham-Việt contact quite well:
“It tells how Việt and Cham met, regarding each other as alien, as virtually nonhuman, and how between 1306 and 1471 they constructed a common, mutually comprehensible world in the region around Quảng Nam.”
“Finally, the book tells of the breakdown of accommodation and common meanings and the re-creation of the Cham as alien and exotic.”
This is not exactly what Hồ Trung Tú does in his book, but he takes the discussion a long way in this direction. And it’s an enlightening direction to go.
Lê Minh Khai
Trên Facebook, Prof Le Minh Khai còn có hai comments xoay quanh nội dụng này như sau:
- Va toi cung noi ve ly luan ve "giong noi nguoi Quang Nam." Mac du toi khong thao ve ngon ngu hoc va khong co kha nang de noi ly luan nay la dung hay khong (nhung bay gio toi da doc bai cua GS Pham Thi Hoa roi, va biet la rat co the la dung), toi nghi rang bo phan nay rat thu vi, boi vi no buoc chung ta phai suy nghi nhieu hon ve lich su su tiep xuc giua nguoi Viet va Cham. Nhat dinh co nhung giai doan khac nhau, va o trong do cung co nhung cach tiep xuc khac nhau nua, va "giong noi nguoi Quang Nam" rat co le la chung co cua mot giai doan va mot cach tiep xuc rat dac biet! Cam on anh da co gang nghien cuu va viet quyen sach nay!!

- vang, toi hieu bo phan do (ngôn ngữ của người Quảng Nam) chua chung minh day du, nhung ma anh dua ra ly luan nay rat tot, boi vi it nhat anh dua ra du tai lieu de buoc nguoi ta phai xem lai va nghi lai lich su. Day la mot cong hien rat tot! Neu chi noi lai nhung gi ma ai cung biet roi (giong nhu qua nhieu quyen sach khac) thi khong co loi cho ai ca. Nhung quyen sach nay thi khac. -Toi cung chuc anh hanh phuc, va hy vong o trong tuong lai can day chung minh co the noi chuyen voi nhau o Da Nang (thanh pho dep lam)!!
----

TS Vũ Thị Phương Anh dịch (Với lời nhắc nhở là vì mến HTT mà dịch chứ không có kiến thức chuyên môn sâu về lĩnh vực này. Vâng, cảm ơn chị nhiều và xin để bạn đọc hiệu đính thêm vì ở đây quả thực có khá nhiều khái niệm mới chưa được Việt hóa, ví dụ như : “Middle Ground” dịch là vùng trung gian, vùng chuyển tiếp đều được nhưng theo nghĩa thì cần phải hiểu là "vùng biên bản sắc", khái niệm đã được TS Lê Thanh Hải nhắc đến ở bìa 4 sách "Có 500 năm như thế": "Với tác phẩm của Hồ Trung Tú, ngành nhân học trên thế giới có thêm một ví dụ minh họa cho lập luận của Fredrik Barth, rằng bản sắc định hình mạnh nhất ở nơi ranh giới")
HTT
----------

The Cham-Việt Frontier as a “Middle Ground”

Biên giới Chăm-Việt với tư cách là "vùng chuyển tiếp"


Một trong những cuốn sách quan trọng nhất được viết về lịch sử Bắc Mỹ trong những thập niên gần đây là cuốn Vùng chuyển tiếp: Thổ dân Mỹ, các đế chế, và các nền cộng hòa trong khu vực Ngũ Đại Hồ, 1650-1815. Cuốn sách này đã làm được một điều rất quan trọng, đó là xem xét lại sự tiếp xúc giữa những người Mỹ bản địa (mà ta hay gọi là thổ dân Mỹ - Indians) và những người da trắng (người Pháp, người Anh vv) tại một khu vực ở Bắc Mỹ trong suốt thời gian vài thế kỷ, và giải thích sự tương tác này dưới cái nhìn tổng hợp và sâu sắc hơn bất cứ tác giả nào đã làm trước đó.


Dẫn lại đoạn trích ở bìa sau, cuốn sách này "nhằm thoát ra khỏi những câu chuyện đơn giản về mối quan hệ giữa thổ dân Mỹ và dân da trắng - những câu chuyện nói về sự chinh phục, đồng hóa cũng như những câu chuyện nói về sự bền bỉ của những giá trị văn hóa. Thay vì làm như vậy, cuốn sách này tìm hiểu sự thích nghi và chia sẻ những giá trị chung."

"Cuốn sách kể về việc người châu Âu và thổ dân Mỹ đã gặp nhau ra sao, đã xem nhau như những kẻ xa lạ, thậm chí dường như không phải là con người, và rồi trong khoảng thời gian từ năm 1650 đến 1815 đã tạo ra được một thế giới khả ngộ [tức thế giới mà người ta có thể hiểu được*] chung cho cả hai bên tại khu vực xung quanh vùng Ngũ Đại Hồ... Nơi đây những thế giới cổ xưa của người Algonquins [thổ dân sinh sống ở khu vực phía Đông Bắc Mỹ*] và nhiều người Âu khác đã chồng lấn lên nhau, và sự pha trộn này tạo ra các hệ thống giá trị và sự giao lưu mới".


"Cuối cùng, cuốn sách kể về sự chấm dứt của quá trình thích nghi và chia sẻ các giá trị chung, và sự tái tạo lại hình ảnh của người thổ dân Mỹ như những kẻ xa lạ và kỳ quặc."

Nói cách khác, White [tác giả của cuốn sách*] đã kể lại một giai đoạn mà người Mỹ bản địa và những người nhập cư da trắng thực sự không hiểu về nhau và cũng chẳng thích nhau, nhưng vẫn tìm được phương cách nào đó để chung sống (dù cũng có rất nhiều vấn đề và rất nhiều bạo lực), và tạo ra một thế giới chung.


Tôi nhớ đến cuốn sách của White vì gần đây tôi đang đọc một tác phẩm của Hồ Trung Tú có tựa là Có 500 năm như thế: hình dung sự hình thành bản sắc Quảng Nam.

Cuốn sách đề cập đến rất nhiều vấn đề. Chẳng hạn, tác giả đã xem xét kỹ lưỡng về vấn đề "Nam tiến", tức là quá trình di chuyển về phía Nam của những nhóm người nói tiếng Việt trong suốt nhiều thế kỷ, và chỉ ra rằng mọi việc phức tạp hơn rất nhiều chứ không phải chỉ là một sự di chuyển dễ dàng về phía Nam, như cụm từ này đã gợi ra.


Đã có những tác giả nước ngoài viết về quá trình tiến về phía Nam của các dân tộc Việt và họ cũng đã nói về những thay đổi khi người Việt tiếp thu các nền văn hóa Chăm và Khmer. Tuy nhiên, khi đưa ra lập luận này, các tác giả chỉ chú trọng vào người Việt. Chúng ta hầu như ít khi thấy được rõ ràng về hình ảnh của người Chăm. Họ chỉ đơn giản là đã tồn tại ở đâu đó để cho người Việt có thể tiếp thu điều này điều khác.

Với quan điểm hoàn toàn trái ngược, HTT phê phán các học giả VN có lập luận tương tự về việc người Việt tiếp thu văn hóa của các dân tộc khác, mà lại đi mô tả quá trình này như thể người Việt đã di dân đến những vùng mà người dân ở đó, ví dụ như người Chăm, đã bỏ hoang (chẳng hạn như sau một cuộc chiến tranh). Cũng vậy, ở đây sự tồn tại người Chăm có được thừa nhận, nhưng họ không thực sự có mặt trong câu chuyện ấy.

Ngược lại với các tác giả trước đó, HTT cố gắng đưa người Chăm vào bức tranh này, và cố gắng đưa các cứ liệu về sự hiện diện liên tục của người Chăm tại những khu vực mà người Việt di dân đến và cư trú. Tác giả cũng chỉ ra rằng, chẳng hạn, đã có những giai đoạn mà tại Quảng Nam người Việt chỉ là một thiểu số sinh sống giữa đa số người Chăm, và vì vậy chúng ta cần phải suy nghĩ xem những tương tác như thế nào đã diễn ra tại những khu vực như vậy trong thời gian ấy.

Trong một phần viết khá dài về ngôn ngữ, HTT đã đưa ra một lập luận khá thú vị để giải thích lý do tại sao tiếng Việt được sử dụng ở khu vực QN và phía bên kia đèo Hải Vân lại quá khác biệt nhau như vậy: điều đó là do tiếng Việt ở QN đã bị  Chăm hóa" (tôi mới sáng tác ra từ này ở đây thôi), tức là, ngôn ngữ ấy giống với thứ tiếng Việt của những người nói tiếng Chăm bản ngữ.

Tôi không phải là một nhà ngôn ngữ và không có cách nào để có thể kiểm chứng quan điểm này (tuy nhiên, có thể đọc những nhận xét tích cực (bằng tiếng Việt) về cuốn sách ấy ở đây [mở ngoặc: không có link kèm theo ở đây; ai muốn đọc thì vào trang leminhkhai.wordpress.com mà đọc nhé]), nhưng quan điểm ấy làm tôi thích vì nó cho phép ta suy nghĩ về quan hệ Chăm-Việt một cách phức tạp hơn. Trong những hoàn cảnh như thế nào thì người ta có thể tạo ra được một phương ngữ mới nhỉ? Những lời giải thích về cuộc Nam tiến cho đến nay (theo đó, người Việt đã bắt chước nhiều thói quen của người Chăm) không thể giải thích được tại sao người Việt cuối cùng lại nói tiếng Việt theo kiểu của người Chăm như thế.

Để giải thích điều này ta cần phải hiểu sâu sắc hơn về lịch sử mối quan hệ Chăm-Việt chứ không chỉ như là một quá trình đơn hướng trong đó người Việt di chuyển xuống phương Nam và tiếp nhận các yếu tố văn hóa từ những dân tộc khác.

Cuốn sách Có 500 năm như thế của HTT vì vậy đã làm rất tốt việc chỉ ra nhu cầu suy nghĩ về cuộc Nam tiến và mối quan hệ Chăm-Việt một cách đa chiều hơn, và những ý tưởng mà cuốn sách này đưa ra có thể giúp độc giả suy nghĩ về những vấn đề ấy.

Và khi tôi suy nghĩ về điều này khi đọc cuốn sách ấy, tôi cứ nghĩ mãi đến tác phẩm Vùng chuyển tiếp của White. Nếu bạn thay đổi một vài từ trong phần trích dẫn từ bìa sau của cuốn sách của White, thì đoạn trích dẫn ấy có thể sẽ mô tả rất tốt lịch sử cuộc tiếp xúc Chăm-Việt:

  "Cuốn sách kể về việc người Việt và người Chăm đã gặp nhau ra sao, đã xem nhau như những kẻ xa lạ, thậm chí dường như không phải là con người, và rồi trong khoảng thời gian từ năm 1306 đến 1471 đã tạo ra được một thế giới khả ngộ [tức thế giới mà người ta có thể hiểu được*] chung cho cả hai bên tại khu vực xung quanh Quảng Nam."

"Cuối cùng, cuốn sách kể về sự chấm dứt của quá trình thích nghi và chia sẻ các giá trị chung, và sự tái tạo lại hình ảnh của người Chăm như những kẻ xa lạ và kỳ quặc."

HTT không thực sự làm điều này trong cuốn sách của mình, nhưng tác giả đã dẫn dắt độc giả đi theo hướng này suốt một đoạn đường dài. Và đó quả là một hướng đi sáng suốt.
* = chú thích của PA
 ================

Vài nét về Liam Kelley

Liam Kelley


Associate Professor & Undergraduate Coordinator

Vietnam, Mainland Southeast Asia


Office: Sakamaki Hall B408
Phone: (808) 956-8421
Email Dr. Kelley

BA Dartmouth, 1989; MA Hawai'i, 1996; PhD Hawai'i, 2001

Liam Kelley received his B.A. in Russian Language and Literature from Dartmouth College, 1989, and M.A. and Ph.D. degrees in Chinese history from the University of Hawaii at Manoa, 1996 and 2001. His previous research focused on cultural and intellectual aspects of the historical Sino-Vietnamese relationship, as well as Confucianism in Vietnam. His current research examines popular religion in late-nineteenth/early-twentieth century Vietnam.

Professor Kelley offers graduate courses in modern Southeast Asian history and comparative Asian history, and undergraduate courses on mainland Southeast Asian history as well as surveys of world history and Asian history.