Thứ tư, ngày 01 tháng năm năm 2013

Thêm một tai nạn hai xe húc thẳng vào nhau trên quốc lộ 1A.


Xe container húc xe khách, 5 người chết, 8 người bị thương

01/05/2013 07:15 (GMT + 7)
TT - Đến tối 30-4, đã có năm người chết, tám người bị thương nặng trong vụ tai nạn giao thông xảy ra lúc 12g50 cùng ngày trên quốc lộ 1 đoạn qua thôn Đồng Lâm, xã Phong An, huyện Phong Điền (Thừa Thiên - Huế). Xe khách Khánh Truyền từ Huế đi Hà Tĩnh khi đến địa điểm trên thì bị một xe container biển số Hà Nội đi ngược lại đâm trực diện.
Xe khách bị xe container húc bẹp làm tài xế và bốn người đi trên xe thiệt mạng - Ảnh: Nguyên Linh
>> Xe container húc xe khách: đã chết 5 người

Cả hai xe đều văng xuống phần ruộng bên đường, phần thùng xe container bứt khỏi thân xe, chiếc xe khách bẹp dúm phần đầu. Đến 17g cùng ngày quốc lộ 1 mới lưu thông trở lại.
Đại tá Phạm Văn Đức, phó giám đốc Công an tỉnh Thừa Thiên - Huế, cho hay hiện trường để lại cho thấy chiếc xe container đã chạy lấn đường xe ngược chiều gây tai nạn thảm khốc.
Hiện cơ quan điều tra đã tạm giữ lái xe container Tôn Thất Tùng (36 tuổi, trú tại Q.Tân Bình, TP.HCM) để phục vụ công tác điều tra. Ông Đức nói đây là vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng nhất xảy ra trong nhiều năm nay tại tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Trong số năm người thiệt mạng, cơ quan chức năng mới xác định được danh tánh của ba người, trong đó có tài xế xe khách Lê Đình Chinh (32 tuổi, quê Thạch Hà, Hà Tĩnh). Hiện sáu hành khách đang được cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Thừa Thiên - Huế, hai người nguy kịch được chuyển đến Bệnh viện Trung ương Huế cứu chữa.
NGUYÊN LINH

Thứ ba, ngày 16 tháng tư năm 2013

BỤI ĐỜI CHỢ LỚN. TRUYỆN TRANH. VÀ CON CỌP Ở CHỢ.





Nhà Phật có câu chuyện thế này: Một cậu bé bị bỏ rơi được sư thầy nhặt được mang lên núi sống cuộc đời tu hành thanh đạm, không vướng một chút bụi trần. Và sư thầy nghĩ cậu bé có duyên, có phước lắm mới được như thế này chứ không thì ô nhiễm cuộc sống trần gian đến bao giờ mới tẩy rửa được. Đến tuổi trưởng thành, nhận thấy cậu bé, giờ đã là một chàng trai, suốt ngày miệng mỉm cười cho thấy tâm chàng không loạn động hay ưu phiền lo nghĩ chuyện gì, sư thầy dẫn cậu xuống núi để nhìn thấy người đời. Xuống núi, vào chợ thấy gì chàng trai cũng hỏi, đây là con gà, kia là con vịt, chiếc xe sao lại chạy được; đến thấy người đàn bà chàng hỏi con gì đây, sư thầy bảo đó là người đàn bà, bà có thể sinh ra những đứa bé mới để cuộc sống được tiếp tục mãi. Trong đầu chàng trai đã khởi niềm nghi không hiểu làm sao mà người đàn bà có thể sinh ra những đứa bé được. Đến gặp một cô gái, cô gái mỉn cười với chàng trai tuấn tú, mặt mũi sáng rỡ vì tâm trong sạch. Chàng tai hỏi thầy đây là con gì mà nó cười trông đẹp quá thầy ạ. Thấy có vẻ không an toàn sư thầy bảo: Đó là con cọp ở chợ. Con cọp trên núi hung dữ ăn thịt người thế nào thì con cọn ở chợ cũng ăn thịt người như thế con ạ, hãy tránh xa nó ra! Về lại núi, nụ cười như tắt trên môi chàng trai, trông chàng buồn rầu, ưu phiền hẳn. Sư thầy mới hỏi, chàng trai trả lời: Con nhớ con cọp ở chợ!




Cũng như vị sư thầy nọ, chúng ta hiểu lòng lành của các bậc phụ huynh khi tâm niệm chỉ mang điều tốt nhất đến cho con cái khi bảo con tránh xa loại truyện tranh. Và chúng ta cũng hiểu ý tốt của Hội đồng duyệt phim quốc gia (HĐDPQG) khi nói: “phải tỉnh táo và phải hiểu cuộc sống hiện nay cần cái gì, đòi hỏi nghệ sĩ phải làm gì” để cấm phát hành bộ phim “Bụi đời Chợ Lớn” (BĐCL)vì lý do bạo lực, e người xem bị tác động tiêu cực. Thật đáng buồn khi chúng ta, những người trưởng thành vẫn mãi bị xem như những cậu bé, như cậu bé được khuyên không nên xem truyện tranh nọ.
Thật ra ở đây ai là người chưa trưởng thành thì sau khi suy luận một chút ta có thể nhận ra được. Đã mấy chục năm đòi hỏi nghệ sĩ chỉ làm điều cuộc sống cần thế nhưng cuộc sống có cần những điều đó không thì mỗi người đến nay đã có thể tự trả lời được. Ở đây rõ ràng chỉ những người chưa trưởng thành thì mới tin rằng cho con người ta ăn thứ gì thì con người ta sẽ thành thứ đó, sống trong môi trường nào thì con người ta sẽ thành đúng như vậy.
Đâu là quy luật của sự nhận thức hay thế nào là bị ô nhiễm?
Vấn đề bây giờ không phải công bằng hay không công bằng khi duyệt các phim ngoại thì thoáng dễ, còn phim nội thì khắc khe xét nét đủ bề; mà chính là cần phải hiểu thế nào là điện ảnh! Thật ngớ ngẫn khi phải nói như thế với HĐDPQG nhưng thật vậy, điện ảnhvới những chức năng thì không ai rành hơn các vị này nhưng sự tác động của điện ảnh đến con người thì không như các vị nghĩ. Xem phim ma cà rồng liệu có đi hút máu như ma cà rồng; xem phim kinh dị liệu có đi róc thịt chẻ xương người ta như phim; xem phim đánh đấm liệu có đi đánh đấm như phim…?
Quy luật về nhận thức đi theo những con đường không như chúng ta hình dung. Hơn nửa thế kỷ dạy dỗ toàn điều tốt nhưng cớ sao vẫn cứ xuất hiện cả một thế hệ hư hỏng. Dạy dỗ gần 100 năm tinh thần giai cấp vô sản toàn thế giới nhưng cớ sao mởi thả ra đã đánh nhau bưu đầu, mẻ trán? Bao thế hệ được học hành thi cử tử tế về chủ nghĩa Mác, tinh thần đạo đức con người mới nhưng sao thế giới mạng toàn người “hư hỏng” giống như chưa từng một ai thuộc bài, đến độ muốn nói điều gì đúng đắn thì thuê người làm dư luận viên ? Truyệt tranh trẻ con, một thế hệ các bạn lớn lên ở miền Bắc không có truyện tranh để đọc và các bạn cũng thấy thậm chí đó là điều tốt nên cấm hẳn con mình xem truyện tranh. Xin đừng đem loại truyện tranh nhố nhăng ra ví dụ phản biện, cần phải thấy rằng không có gì kích thích sự tưởng tượng và óc khôi hài hơn truyện tranh và phim hoạt hình. Chính đây là lý do khiến phim hoạt hình mãi vẫn không ra rạp được ở ta. Cho đến gần đây, một thế hệ yêu Doreamon, và nhờ thế mới bắt đầu biết cười với nhưng chi tiết ngộ nghĩnh, khôi hài mà thể loại này đem lại cho nhân loại sau gần thế kỷ qua. Tôi tin người biết cười vì phim hoạt hình, hay truyện tranh, là người trong cuộc sống không chỉ biết khôi hài mà còn là người bao dung, nhân ái nữa.




Sau khi lệnh cấm phát hành BĐCL được công bố, trên mạng xuất hiện poster của phim BĐCL với những nhân vật thay vì cầm hung khí lại cầm xô chậu chổi xẻng đi dọn vệ sinh đường phố với tên phim “Thanh niên 5 tốt Chợ Lớn”. Ừ nhỉ, nếu bây giờ toàn xã hội cứ sản xuất toàn loại phim người tốt việt tốt như vậy (dĩ nhiên loại phim này thì qua cửa duyệt nhanh không chi bằng), không một phim nào ngoài luồng lọt vào, thì liệu chúng ta có có được một thế hệ toàn người tốt không ? Và ngược lại, chẳng có sự tàn bạo, phi nhân tính nào Hollywood chưa làm tới, người xem phim Mỹ bị ảnh hưởng sự tàn bạo phi nhân tính hết cả hay sao?

 Rõ ràng sự nhận thức của mỗi người không đi theo những con đường mà chúng ta hình dung bằng cách đơn giản hóa “xem” bầu thì tròn, “xem” ống thì dài !. Biết đâu thấy đâm chém của BĐCL mà nhiều thanh niên sẽ ngán cái thế giới tối tăm ấy và trở lại chăm học hơn. Nào có thấy anh hùng nào trong đó đâu mà HĐDPQG cứ sợ trẻ con noi gương theo. Tất cả chỉ là một cảm giác sợ hãi kinh khiếp nên tránh xa. Sao HĐDPQG không nhìn thấy điều này nhỉ ? Hitler học ai mà tàn bạo đến quỷ thần cũng phải sợ vậy? Hay là hắn ta đã từng coi Bụi đời Chợ Lớn  mà chúng ta không hay?


Đâu là tiêu chuẩn củahiện thực ?

Một đại diện HĐDPQG nói: Phim được làm ra cần cụ thể địa danh, địa điểm cũng như thời điểm nào đấy. Khán giả phải biết được rằng phim được làm ở giai đoạn nào, thuộc về lịch sử hay cuộc sống đương đại.
Lạ nhỉ, Mỹ là nơi sản xuất nhiều nhất loại phim cảnh sát, nhân viên công lực bị tha hóa. Thế mà ngành cảnh sát có bao giờ phiền lòng đâm đơn kiện hãng phim nào đâu? Và cũng đâu thấy người dân Mỹ mất niềm tin vào cảnh sát do những phim như vậy ? Ở ta thì ngược lại. Đúng là không thể hiểu được, cái mà chúng ta tin là xấu thì nó lại thành tốt và thứ mà chúng ta tin mười mươi rằng là nó là tốt thì nó lại xấu và gây mất niềm tin lớn.
Tại sao nhóm làm phim Việt kiều lại mê phim võ thuật đến vậy? Đây rõ ràng là một bước phát triển của điện ảnh mà bất cứ nền điện ảnh nào cũng phải trải qua. Như là Hồng Kông và cả thế giới phải trải qua một thời kỳ công phu của Lý Tiểu Long xong rồi mới có thể tiến lên những bước cao hơn được. Chúng ta không thể đột ngột làm một Titanic hoặc đạt trình độ hành động lôi cuốn như Điệp viên 007 trong một sớm một chiều mà cứ phải biết montage cắt nối một cú đá bằng ba góc quay, một cú đấm bằng năm lần bấm máy cái đã. Hãy nhớ đến những phim có chút hành động của ta như thời “Ván bài lật ngửa” hay “Cảnh sát hình sự” sẽ thấy những pha đánh đấm vụng về, người đánh thì sợ người bị đánh đau, thấy rõ cố tình đánh trượt đi; người bị đánh thì chờ được đánh. Nói thật “Bụi đời Chợ Lớn” cũng vẫn còn sót những chi tiết lỗi này, đủ cho biết cái kinh nghiệm làm phim hành động đánh đấm này điện ảnh Việt Nam còn ABC lắm, lúng túng đủ thứ từ đạo diễn đến quay phim, đến phân cảnh, thư ký trường quay… tất cả cho thấy rõ là đang vừa làm vừa học; và rõ ràng những kinh nghiệm này cần sớm được đúc kết kế thừa, được cả xã hội ủng hộ để sớm tạo thành một lớp những nhà làm phim kinh nghiệm hiểu rõ thế nào là phim hành động.
Điện ảnh với chức năng của nó là giải trí, thuộc tính kỹ thuật thể hiện qua các kỹ xảo.
Thay vì hỏi “Công an ở đâu khi các băng nhóm chém giết nhau” sao không hỏi đá gì mà người văng cả chục mét thế kia. Gọi võ sư giỏi nhất ra đá cái bịch gạo 50kg liệu đã có bay như vậy? Mà văng xa như vậy sao vẫn cứ sống nhăng răng mà không gãy xương ? Hỏi bác sĩ xem xương người ta chịu được lực được bao nhiêu thì gãy.v.v…
Tiêu chuẩn hiện thực không hiểu tự bao giờ đã gắn chặt vào não trạng các thế hệ làm phim và họ đã thực sự không biết làm sao để thoát ra khỏi nó.
Xét ra cho cùng giới lý luận điện ảnh ở ta đã không rạch ròi được hai chức năng chính của điện ảnh, nếu dùng hình tượng thì xin ví đó như là hai chiếc cánh của một con chim, một cánh là tính nhân văn, chất thơ của nền nghệ thuật và cánh kia là thuộc tính kỹ thuật với những kỹ xảo điện ảnh được phát triển không ngừng ngay từ khi mới ra đời đến nay. Thiếu một trong hai chiếc cách ấy nền điện ảnh không bay lên được. Ở ta, ngay từ khi khai sinh đến nay chỉ biết đến chiếc cánh nhân văn, khai thác mạnh chất thơ mà hầu như quên hẳn, thậm chí từ bỏ, thậm chí lên án loại hình chuyên đi khai thác những kỹ xảo, những tìm tòi về dàn dựng tạo nên những cảm giác mới cho người xem. Oscar có hẳn một giải sang trọng cho những kỹ xảo mới. Điện ảnh Việt Nam đã có ai nghĩ đến điều này chưa ?
Thế nhưng mọi nỗ lực trả một cánh lại cho điện ảnh đã bị dội gáo nước lạnh ngay từ những phim hành động đầu tiên cho đến nay, nó luôn được xem là thể loại rẻ tiền, ban giảm khảo luôn dùng từ phim thị trường để gọi nó. Đây không phải là lạ mà là tiếc cho một cơ hội phát triển của điện ảnh cứ để bị trôi dài hết năm này qua năm khác mà không biết định vào đâu, trụ vào đâu thì nó sẽ vững bền một nền móng để phát triển.
Với riêng tôi, đó là kỹ xảo điện ảnh. Vững kỷ xảo thì diễn viên cũng đỡ nhọc nhằn vì thừa chân, thừa tay, thừa ánh mắt không biết bỏ đi đâu !
Trở lại với câu chuyện con cọp ở chợ. Theo các bạn chuyện sẽ xảy ra sau đó ? Tôi nghĩ là chàng trai sẽ xuống núi, không thể khác, và một cuộc đời vô cùng gian khổ với người ngơ ngác trước cuộc sống như chàng đang chờ chàng phía trước. Công khó của vị sư thầy bao năm như vậy là đổ sông đổ biển. HĐDPQG có bao giờ nghĩ rằng mình cũng như vị sự thầy nọ, đang làm điều vô ích không?
Hồ Trung Tú 

Thứ bảy, ngày 13 tháng tư năm 2013

Một bài đáng suy ngẫm của Liam Kelley

http://leminhkhai.wordpress.com/2013/04/10/the-excuse-of-khong-co-gi-moi/
Bản dịch của TS Vũ Thị Phương Anh:

LỜI BIỆN HỘ “KHÔNG CÓ GÌ MỚI”
Liam Kelley


Tôi có một phát hiện

Bất cứ khi nào các học giả VN phải đối diện với những ý tưởng khác biệt với những điều được xem là chính thống ở VN, là họ lại đưa ra nhận xét rằng điều đó “không có gì mới”.

Gần đây hình như tôi đã viết về điều đó ở trên blog này khi tôi nói về những nhận xét của DTQ về cuốn Bên thắng cuộc của Huy Đức. Nhưng những nhận xét tương tự như vậy tôi cũng được nghe mỗi khi tôi nêu ra một điều gì, hoặc bất kỳ ai khác có nêu ra một điều gì không giống với những điều mà hệ thống chấp nhận.

OK, nếu nhận xét “không có gì mới” là một cách đưa ra lời phê bình về mặt học thuật, thì những người đưa ra lời phê bình ấy chắc phải có hàm ý rằng ở VN có những điều thực sự mới mẻ về mặt học thuật. Vậy, điều mới mẻ về mặt học thuật ấy ở đâu? Những học giả VN đã đưa ra những điều mới mẻ về mặt học thuật ấy là ai thế? Tên các tác phẩm của họ là gì? Vì quả thật tôi không hề biết đến những tác phẩm đã được viết ra và đáng được xem là “mới” này.


Mà điều gì đã làm cho những tác phẩm này được xem là “mới” nhỉ? Phải chăng đó là các tác phẩm đã sử dụng những phương pháp hiện đại để tạo ra một cách nhìn mới về quá khứ, như những học giả Ấn Độ đã làm khi nghiên cứu “giai cấp cùng đinh”*? Nếu vậy, những lập luận mà các học giả VN đã tạo ra từ những phương pháp hiện đại mới mẻ này là gì thế?


Khi đưa ra nhận xét “không có gì mới”, phải chăng các học giả VN nghĩ rằng họ là những thành viên bình đẳng của thế giới học thuật toàn cầu (và trong bối cảnh ấy họ có thể đưa ra nhận xét về giá trị học thuật của các tác phẩm của người khác)? Nếu vậy, những tác phẩm nào của họ có thể đưa ra để so sánh với những tác phẩm đã được viết ra tại các quốc gia khác trong nhiều thập kỷ vừa qua? Điều gì đã cho phép một học giả VN cái quyền phê phán tác phẩm của người khác bằng nhận xét “không có gì mới”?


Có lý do chính đáng nào (về mặt học thuật) khiến tôi cứ phải nghe mãi lời nhận xét này không? Hay đó chỉ là một phản ứng cảm tính được thốt ra trong tâm trạng mặc cảm? Nếu quả thật là có lý do thì xin hãy chỉ ra những chứng cứ khoa học cho thấy nhận xét ấy là đúng (ví dụ, đã có ai viết ra được cái gì có thể xem là "cạnh tranh" được với HĐ hay không?) Còn nếu đó là do mặc cảm, thì mọi người hãy dừng lại đừng chỉ phê phán người khác như thế mà hãy lo đi nghiên cứu để tạo ra những gì thực sự là "mới" đi. Như thế thì được cả đôi bên đấy!

Theo như tôi biết thì lời nhận xét “không có gì mới” chẳng qua chỉ là một cách để các học giả VN tự biện hộ cho sự tầm thường hiện có của mình mà thôi. Nhưng thực ra chẳng có cách nào biện hộ cho sự tầm thường được, vì không có gì có thể cản trở chúng ta đạt đến đỉnh cao

----
*Ghi chú của người dịch: “subaltern studies” là một thuật ngữ của ngành lịch sử/nhân học/văn hóa học, không rõ được dịch ra tiếng Việt là gì, người dịch không phải chuyên ngành nên dịch tạm vậy, ai có nghề xin sửa giúp nhé. Có thể tham khảo ở đây: http://en.wikipedia.org/wiki/Subaltern_(postcolonialism)

Thứ bảy, ngày 09 tháng ba năm 2013

Ai trách nhiệm với kiểu giao thông nhắm thẳng vào nhau mà tiến ?


Tai nạn giao thông thương tâm ở Khánh Hòa một lần nữa cho thấy quốc lộ 1A là quá hẹp, đó là kiểu giao thông hướng thẳng vào nhau mà tiến. Đây là trách nhiệm của chính phủ, bao nhiêu chục năm rồi mà không tách được hai chiều ngược nhau ra trên tuyến đường huyết mạch này, chứ không phải ý thức giao thông của tài xế, VTV đừng đổ hết lỗi cho họ như thế! Thử hỏi có tài xế nào vô ý thức đến độ xem mạng mình như cỏ rác vậy không ? Với lưu lượng xe trên quốc lộ 1A đông đúc như hiện nay cần phải thấy tai nạn như vậy là ít, tài xế đã ý thức cao lắm rồi khi đi trên con đường này.
Bao nhiêu chục năm rồi, bao nhiêu dự án lớn dự án khổng lồ rồi nhưng quốc lộ 1A vẫn kiểu giao thông nhắm thẳng vào nhau mà tiến. Không ai thấy có lỗi hay sao ?





Ảnh VnExpress

Thứ ba, ngày 05 tháng ba năm 2013

"Có 500 năm như thế": Một cuốn sách rất kích thích tư duy !

Review của bạn đọc2 Đặng Thái Hòa. Có những ý rất lạ :)

*
Cô nhân viên cũ của em hiện đang ở Đà Nẵng có 1 tin nhắn thế này: Anh đã đọc “Có 500 năm như thế” chưa? Một cuốn sách "hay kinh hoàng", và "không hề nhức đầu". Lý do là, khi bạn này đọc đến đâu thì kiểm chứng với ông nội đến đó; tất cả đều được xác nhận là đúng ! Cố ấy không hay là em đọc rồi và đang nghĩ đến viết review sách này.Nếu nói hiểu thì có lẽ làm cái nghề nghiên cứu liên quan đến lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ thì mới hiểu. Nhưng mà em thích cách đặt vấn đề và phương pháp của bác. Đọc vào rất kích thích tư duy!
 (Ảnh của bác Sao Hồng chụp một quầy sách ở Nha Trang)
Tình cờ dắt mấy ku con đi nhà sách, cho tụi nó đọc sách tại chỗ, em cũng lẩn thẩn cầm vài cuốn lật chơi. Đọc hết phần dẫn nhập của cuốn Có 500 Năm thì em quyết định sẽ mua đem về. Em đọc hết cuốn sách của anh sau 3 ngày; bây giờ quyết định gấp lại cho đầu óc bớt rối để điểm lại các luận điểm cũng như bằng chứng anh đưa ra trước khi sẽ đọc kỹ lại 1 lần nữa.Và đây là những cảm nhận ban đầu:

1. Tự thách thức luận điểm chung để đẩy vấn đề xa hơn, rồi lại tự thách thức những khám phá ấy để chẻ vấn đề thành những phân mảnh nhỏ. Lộ trình lý giải vấn đề để anh dẫn dắt người đọc đến mô hình da báo của các làng Việt, Chăm rất thú vị. Chưa đủ trình độ để có thể "soi mói" các lập luận và chứng cứ anh đưa ra, bản thân việc bám theo anh trên lộ trình ấy đã là 1 cảm xúc rất kích thích.

2. Việc phân tích các bộ gia phả quý để tính toán số năm trung bình của 1 thế hệ mang dáng dấp của phương pháp phân tích định lượng phương Tây. Chỗ này thì em hoàn toàn bất lực, chỉ đọc lướt, nhưng sẽ đọc kỹ lại khi bình tĩnh. Điều thú vị về chỗ mà 1 vài ý kiến review sách của anh, mà em đọc được trên mạng, cho là 'táo bạo', thì em cho là 'hứa hẹn' ở chỗ nó mở ra cơ hội 1 ngày nào đó sẽ 1 chuyên gia thống kê giúp anh đào xới lại phần này bằng phương pháp định lượng, để không ai có thể chối cãi được. Ứng dụng thông kê vào nghiên cứu văn hóa - ý tưởng này, tự thân nó đã là 1 công trình nghiên cứu khoa học lớn.

Anh cho em hỏi thêm câu hỏi có lẽ ai cũng sẽ nghĩ đến:Liệu phương pháp này, nếu mở rộng không gian nghiên cứu, có dẫn đưa chúng ta đến những lý giải cho giọng Sài Gòn và miền Tây hay không, nếu chỉ gói gọn phạm vi nghiên cứu trong phương ngữ, chứ chưa kể đến phạm trù rộng hơn là "bản sắc". Và ngay cả ở Bắc và Bắc Trung bộ cũng vậy, cứ một vài trăm kilomet ta lại có một vùng phương ngữ khác hẳn nhau. Hà Nội – Thanh Hóa – Vinh ! Trong sách của anh đâu đó hình như có gợi mở ra hướng này thì phải ?

Sau mỗi lần lấn đất, hoặc bằng tương quan vũ lực hoặc bằng tương quan hữu nghị, thì dân Việt di cư vào Nam. Ho không đánh đuổi hoặc chiếm đất mà đến nơi người Chàm không ở để định cư, và phần nhiều vẫn ở lại cùng chung sống với dân Việt mới đến. Họ đã ở cạnh nhau suốt 500 như thế ! Các luồng di dân không liên tục mà bị đứt đoạn trong suốt chiều dài 500 năm đó. Mỗi lần đứt đoạn, vì lý do chiến tranh, thời kỳ ngăn sông cấm chợ kéo dài có giai đoạn 60 năm, có giai đoạn 100 năm, có giai đoạn 200 năm. Ngần ấy thời gian đủ để các di dân mới hòa nhập sâu hơn với cộng đồng bản địa, sinh ra các thế hệ lai có đặc điểm riêng về phương ngữ và văn hóa không giống với các lớp di dân mới sau này.

Một khía cạnh khác là mỗi lớp di dân mới chồng lên lớp cũ lại đến từ nhiều nguồn khác nhau: khi là dân cư đồng bằng sông Hồng vào Nam, khi thì dân Thanh - Nghệ. Mỗi lớp / luồng di dân đó lại nhắm đến 1 khu vực địa lý khác biệt, càng về sau càng tiến về phía Nam theo tiến trình lấn đất của người Việt sâu vào địa bàn của Chăm pa.

Ba yếu tố đó: (1). Sự đứt đoạn giữa các luồng di dân, (2). Đặc điểm khác biệt của từng lớp di dân & (3). Sự phân bổ địa bàn định cư của di dân Việt trong suốt tiến trình lịch sử hình thành các vùng phương ngữ khác biệt: Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, v.v...Điều quan tâm lớn nhất của Hồ Trung Tú là lý giải: (1). Sự khác biệt của Quảng Nam (nằm trên con đường huyết mạch của các luồng di dân) so với Huế & so với các địa phương sâu về phía Nam như từ Bình Định trở vào, (2). Sự khác biệt phương ngữ ngay tại Quảng Nam, hoặc ngay tại Huế & (3). Sự tương đồng phương ngữ của 1 số làng tại Quảng Nam so với Huế và ngược lại.

Các tài liệu và nghiên cứu trước đó chỉ tóm gọn 1 cuộc giao thoa vài trăm năm giữa Việt và Chăm, gọn đến mức dường như không quan tâm đến các yếu tố hình thành do sự phân kỳ lịch sử mở rộng biên giới Đại Việt về phía Nam, cũng như các sự kiện quan sát được ngay trong ngày hôm nay, vốn là hệ quả để lại của sự phân kỳ đó trong quá khứ. Chỉ riêng với sự phân kỳ này, phân kỳ tác động chứ không phải chỉ là sự phân chia thời gian theo đặc điểm thường thấy, tác giả Hồ Trung Tú đã cung cấp một công cụ quan trọng giúp chúng ta hình dung rõ hơn những gì đã xảy ra ở nơi mà không có bất cứ dòng lịch sử nào được ghi chép.

Đặng Thái Hòa


Thứ bảy, ngày 02 tháng ba năm 2013

Mùa ốc gạo

Thấy tấm ảnh này trên trang của Le Van Thinh nhớ đến bài này nhưng tìm mãi trên mạng không ra. Hay là viết xong nhưng chưa in ở đâu chăng? In ở đây vậy. Mọi người đọc xả xì trét :)

Chủ nhật, ngày 20 tháng một năm 2013

Lời bình tác phẩm "Có 500 năm như thế" của một giáo sư sử học Mỹ .

One of the most important books written about the history of North America in recent decades is Richard White’s The Middle Ground: Indians, Empires, and Republics in the Great Lakes Region, 1650-1815. What this book did that was so important is that it examined the contact between Native Americans (or “Indians”) and white settlers (French, British, etc.) in one area of North America over a period of a couple of centuries, and explained that interaction in much more complex and sophisticated terms than anyone had before.
mid ground
To quote from the back cover, the book “seeks to step outside the simple stories of Indian/white relations – stories of conquest and assimilation and stories of cultural persistence. It is, instead, about a search for accommodation and common meaning.”
“It tells how Europeans and Indians met, regarding each other as alien, as virtually nonhuman, and how between 1650 and 1815 they constructed a common, mutually comprehensible world in the region around the Great Lakes. . . Here the older worlds of the Algonquins and various Europeans overlapped, and their mixture created new systems of meaning and of exchange.”
“Finally, the book tells of the breakdown of accommodation and common meanings and the re-creation of the Indians as alien and exotic.”
In other words, White depicts a time when Native Americans and white settlers didn’t really understand or like each other, but nonetheless found ways to live with each other (although plenty of problems and violence persisted), and created a shared world.
500
I’ve been reminded of White’s book recently as I have been reading a work by Hồ Trung Tú called Có 500 năm như thế: hình dung sự hình thành bản sắc Quảng Nam [There Were 500 Years Like That: Picturing the Formation of the Characteristics of Quảng Nam].
This book covers a lot of ground. It looks in detail, for instance, at the “Southern Advance” (Nam tiến), or southward migration of Việt-speaking peoples over the centuries, and points out that it was really much more complex than a smooth southward movement like that term implies.
This critique of the Nam tiến is one that many people are familiar with. What people will find that is refreshing in this book is its effort to keep the Cham in the picture of the Nam tiến.
There are some scholars outside of Vietnam who have written about the southward movement of Việt peoples and have talked about how the Việt changed as they adopted cultural practices from people like the Cham and the Khmer. In making this argument, however, these writers have focused on the Việt. We never really see the Cham very clearly. They are simply there somewhere for the Việt to assimilate things from.
On the other extreme, Hồ Trung Tú criticizes scholars in Vietnam who make the same argument about Việt adoption of the cultural practices of others, but who describe a process where Việt migrate into areas that people like the Cham have abandoned (after a war, for instance). Here again, the Cham are acknowledged, but they are still not really there in the story.
cham ruins
Hồ Trung Tú, by contrast, tries to keep the Cham in the picture, and tries to document their continued presence in areas that Việt migrated into/occupied. He also points out, for instance, that there were periods of time when in Quảng Nam the Việt were a minority living amidst a Cham majority, and that we therefore have to think about what kind of interactions took place in such locations at such times.
In a long section on language, one intriguing argument that Hồ Trung Tú makes is that the reason why the version of Vietnamese spoken in the Quảng Nam region is so different from the Vietnamese just on the other side of the Hải Vân Pass might be because the Vietnamese in Quảng Nam is “Chamicized” (I’m inventing this term here), namely, that it resembles the Vietnamese that was spoken by people whose native language was Cham.
I’m not a linguist and have no way of verifying this view (for a positive review [in Vietnamese] of this work by a linguist, however, click here), but what I do like about this point is that it makes us think about Cham-Việt relations in complex ways. In what context would such a new version of a language appear? The explanations about the Nam tiến to date (where the Việt adopt Cham practices) cannot explain why the Việt would end up speaking Vietnamese the way that some Cham did.
To explain that we need a more complex understanding of the history of Cham-Việt relations than one that sees a uni-directional process of Việt moving southward and assimilating cultural elements from other peoples.
barrow
Hồ Trung Tú’s Có 500 năm như thế thus does a good job of pointing out the need to think about the Nam tiến and Cham-Việt relations in more complex ways, and the ideas it offers get the reader thinking about these issues.
And as I reflect upon these issues while reading this book, I keep thinking of White’s Middle Ground. If you changed a few words on the back cover of that book, it could probably describe the history of Cham-Việt contact quite well:
“It tells how Việt and Cham met, regarding each other as alien, as virtually nonhuman, and how between 1306 and 1471 they constructed a common, mutually comprehensible world in the region around Quảng Nam.”
“Finally, the book tells of the breakdown of accommodation and common meanings and the re-creation of the Cham as alien and exotic.”
This is not exactly what Hồ Trung Tú does in his book, but he takes the discussion a long way in this direction. And it’s an enlightening direction to go.
Lê Minh Khai
Trên Facebook, Prof Le Minh Khai còn có hai comments xoay quanh nội dụng này như sau:
- Va toi cung noi ve ly luan ve "giong noi nguoi Quang Nam." Mac du toi khong thao ve ngon ngu hoc va khong co kha nang de noi ly luan nay la dung hay khong (nhung bay gio toi da doc bai cua GS Pham Thi Hoa roi, va biet la rat co the la dung), toi nghi rang bo phan nay rat thu vi, boi vi no buoc chung ta phai suy nghi nhieu hon ve lich su su tiep xuc giua nguoi Viet va Cham. Nhat dinh co nhung giai doan khac nhau, va o trong do cung co nhung cach tiep xuc khac nhau nua, va "giong noi nguoi Quang Nam" rat co le la chung co cua mot giai doan va mot cach tiep xuc rat dac biet! Cam on anh da co gang nghien cuu va viet quyen sach nay!!

- vang, toi hieu bo phan do (ngôn ngữ của người Quảng Nam) chua chung minh day du, nhung ma anh dua ra ly luan nay rat tot, boi vi it nhat anh dua ra du tai lieu de buoc nguoi ta phai xem lai va nghi lai lich su. Day la mot cong hien rat tot! Neu chi noi lai nhung gi ma ai cung biet roi (giong nhu qua nhieu quyen sach khac) thi khong co loi cho ai ca. Nhung quyen sach nay thi khac. -Toi cung chuc anh hanh phuc, va hy vong o trong tuong lai can day chung minh co the noi chuyen voi nhau o Da Nang (thanh pho dep lam)!!
----

TS Vũ Thị Phương Anh dịch (Với lời nhắc nhở là vì mến HTT mà dịch chứ không có kiến thức chuyên môn sâu về lĩnh vực này. Vâng, cảm ơn chị nhiều và xin để bạn đọc hiệu đính thêm vì ở đây quả thực có khá nhiều khái niệm mới chưa được Việt hóa, ví dụ như : “Middle Ground” dịch là vùng trung gian, vùng chuyển tiếp đều được nhưng theo nghĩa thì cần phải hiểu là "vùng biên bản sắc", khái niệm đã được TS Lê Thanh Hải nhắc đến ở bìa 4 sách "Có 500 năm như thế": "Với tác phẩm của Hồ Trung Tú, ngành nhân học trên thế giới có thêm một ví dụ minh họa cho lập luận của Fredrik Barth, rằng bản sắc định hình mạnh nhất ở nơi ranh giới")
HTT
----------

The Cham-Việt Frontier as a “Middle Ground”

Biên giới Chăm-Việt với tư cách là "vùng chuyển tiếp"


Một trong những cuốn sách quan trọng nhất được viết về lịch sử Bắc Mỹ trong những thập niên gần đây là cuốn Vùng chuyển tiếp: Thổ dân Mỹ, các đế chế, và các nền cộng hòa trong khu vực Ngũ Đại Hồ, 1650-1815. Cuốn sách này đã làm được một điều rất quan trọng, đó là xem xét lại sự tiếp xúc giữa những người Mỹ bản địa (mà ta hay gọi là thổ dân Mỹ - Indians) và những người da trắng (người Pháp, người Anh vv) tại một khu vực ở Bắc Mỹ trong suốt thời gian vài thế kỷ, và giải thích sự tương tác này dưới cái nhìn tổng hợp và sâu sắc hơn bất cứ tác giả nào đã làm trước đó.


Dẫn lại đoạn trích ở bìa sau, cuốn sách này "nhằm thoát ra khỏi những câu chuyện đơn giản về mối quan hệ giữa thổ dân Mỹ và dân da trắng - những câu chuyện nói về sự chinh phục, đồng hóa cũng như những câu chuyện nói về sự bền bỉ của những giá trị văn hóa. Thay vì làm như vậy, cuốn sách này tìm hiểu sự thích nghi và chia sẻ những giá trị chung."

"Cuốn sách kể về việc người châu Âu và thổ dân Mỹ đã gặp nhau ra sao, đã xem nhau như những kẻ xa lạ, thậm chí dường như không phải là con người, và rồi trong khoảng thời gian từ năm 1650 đến 1815 đã tạo ra được một thế giới khả ngộ [tức thế giới mà người ta có thể hiểu được*] chung cho cả hai bên tại khu vực xung quanh vùng Ngũ Đại Hồ... Nơi đây những thế giới cổ xưa của người Algonquins [thổ dân sinh sống ở khu vực phía Đông Bắc Mỹ*] và nhiều người Âu khác đã chồng lấn lên nhau, và sự pha trộn này tạo ra các hệ thống giá trị và sự giao lưu mới".


"Cuối cùng, cuốn sách kể về sự chấm dứt của quá trình thích nghi và chia sẻ các giá trị chung, và sự tái tạo lại hình ảnh của người thổ dân Mỹ như những kẻ xa lạ và kỳ quặc."

Nói cách khác, White [tác giả của cuốn sách*] đã kể lại một giai đoạn mà người Mỹ bản địa và những người nhập cư da trắng thực sự không hiểu về nhau và cũng chẳng thích nhau, nhưng vẫn tìm được phương cách nào đó để chung sống (dù cũng có rất nhiều vấn đề và rất nhiều bạo lực), và tạo ra một thế giới chung.


Tôi nhớ đến cuốn sách của White vì gần đây tôi đang đọc một tác phẩm của Hồ Trung Tú có tựa là Có 500 năm như thế: hình dung sự hình thành bản sắc Quảng Nam.

Cuốn sách đề cập đến rất nhiều vấn đề. Chẳng hạn, tác giả đã xem xét kỹ lưỡng về vấn đề "Nam tiến", tức là quá trình di chuyển về phía Nam của những nhóm người nói tiếng Việt trong suốt nhiều thế kỷ, và chỉ ra rằng mọi việc phức tạp hơn rất nhiều chứ không phải chỉ là một sự di chuyển dễ dàng về phía Nam, như cụm từ này đã gợi ra.


Đã có những tác giả nước ngoài viết về quá trình tiến về phía Nam của các dân tộc Việt và họ cũng đã nói về những thay đổi khi người Việt tiếp thu các nền văn hóa Chăm và Khmer. Tuy nhiên, khi đưa ra lập luận này, các tác giả chỉ chú trọng vào người Việt. Chúng ta hầu như ít khi thấy được rõ ràng về hình ảnh của người Chăm. Họ chỉ đơn giản là đã tồn tại ở đâu đó để cho người Việt có thể tiếp thu điều này điều khác.

Với quan điểm hoàn toàn trái ngược, HTT phê phán các học giả VN có lập luận tương tự về việc người Việt tiếp thu văn hóa của các dân tộc khác, mà lại đi mô tả quá trình này như thể người Việt đã di dân đến những vùng mà người dân ở đó, ví dụ như người Chăm, đã bỏ hoang (chẳng hạn như sau một cuộc chiến tranh). Cũng vậy, ở đây sự tồn tại người Chăm có được thừa nhận, nhưng họ không thực sự có mặt trong câu chuyện ấy.

Ngược lại với các tác giả trước đó, HTT cố gắng đưa người Chăm vào bức tranh này, và cố gắng đưa các cứ liệu về sự hiện diện liên tục của người Chăm tại những khu vực mà người Việt di dân đến và cư trú. Tác giả cũng chỉ ra rằng, chẳng hạn, đã có những giai đoạn mà tại Quảng Nam người Việt chỉ là một thiểu số sinh sống giữa đa số người Chăm, và vì vậy chúng ta cần phải suy nghĩ xem những tương tác như thế nào đã diễn ra tại những khu vực như vậy trong thời gian ấy.

Trong một phần viết khá dài về ngôn ngữ, HTT đã đưa ra một lập luận khá thú vị để giải thích lý do tại sao tiếng Việt được sử dụng ở khu vực QN và phía bên kia đèo Hải Vân lại quá khác biệt nhau như vậy: điều đó là do tiếng Việt ở QN đã bị  Chăm hóa" (tôi mới sáng tác ra từ này ở đây thôi), tức là, ngôn ngữ ấy giống với thứ tiếng Việt của những người nói tiếng Chăm bản ngữ.

Tôi không phải là một nhà ngôn ngữ và không có cách nào để có thể kiểm chứng quan điểm này (tuy nhiên, có thể đọc những nhận xét tích cực (bằng tiếng Việt) về cuốn sách ấy ở đây [mở ngoặc: không có link kèm theo ở đây; ai muốn đọc thì vào trang leminhkhai.wordpress.com mà đọc nhé]), nhưng quan điểm ấy làm tôi thích vì nó cho phép ta suy nghĩ về quan hệ Chăm-Việt một cách phức tạp hơn. Trong những hoàn cảnh như thế nào thì người ta có thể tạo ra được một phương ngữ mới nhỉ? Những lời giải thích về cuộc Nam tiến cho đến nay (theo đó, người Việt đã bắt chước nhiều thói quen của người Chăm) không thể giải thích được tại sao người Việt cuối cùng lại nói tiếng Việt theo kiểu của người Chăm như thế.

Để giải thích điều này ta cần phải hiểu sâu sắc hơn về lịch sử mối quan hệ Chăm-Việt chứ không chỉ như là một quá trình đơn hướng trong đó người Việt di chuyển xuống phương Nam và tiếp nhận các yếu tố văn hóa từ những dân tộc khác.

Cuốn sách Có 500 năm như thế của HTT vì vậy đã làm rất tốt việc chỉ ra nhu cầu suy nghĩ về cuộc Nam tiến và mối quan hệ Chăm-Việt một cách đa chiều hơn, và những ý tưởng mà cuốn sách này đưa ra có thể giúp độc giả suy nghĩ về những vấn đề ấy.

Và khi tôi suy nghĩ về điều này khi đọc cuốn sách ấy, tôi cứ nghĩ mãi đến tác phẩm Vùng chuyển tiếp của White. Nếu bạn thay đổi một vài từ trong phần trích dẫn từ bìa sau của cuốn sách của White, thì đoạn trích dẫn ấy có thể sẽ mô tả rất tốt lịch sử cuộc tiếp xúc Chăm-Việt:

  "Cuốn sách kể về việc người Việt và người Chăm đã gặp nhau ra sao, đã xem nhau như những kẻ xa lạ, thậm chí dường như không phải là con người, và rồi trong khoảng thời gian từ năm 1306 đến 1471 đã tạo ra được một thế giới khả ngộ [tức thế giới mà người ta có thể hiểu được*] chung cho cả hai bên tại khu vực xung quanh Quảng Nam."

"Cuối cùng, cuốn sách kể về sự chấm dứt của quá trình thích nghi và chia sẻ các giá trị chung, và sự tái tạo lại hình ảnh của người Chăm như những kẻ xa lạ và kỳ quặc."

HTT không thực sự làm điều này trong cuốn sách của mình, nhưng tác giả đã dẫn dắt độc giả đi theo hướng này suốt một đoạn đường dài. Và đó quả là một hướng đi sáng suốt.
* = chú thích của PA
 ================

Vài nét về Liam Kelley

Liam Kelley


Associate Professor & Undergraduate Coordinator

Vietnam, Mainland Southeast Asia


Office: Sakamaki Hall B408
Phone: (808) 956-8421
Email Dr. Kelley

BA Dartmouth, 1989; MA Hawai'i, 1996; PhD Hawai'i, 2001

Liam Kelley received his B.A. in Russian Language and Literature from Dartmouth College, 1989, and M.A. and Ph.D. degrees in Chinese history from the University of Hawaii at Manoa, 1996 and 2001. His previous research focused on cultural and intellectual aspects of the historical Sino-Vietnamese relationship, as well as Confucianism in Vietnam. His current research examines popular religion in late-nineteenth/early-twentieth century Vietnam.

Professor Kelley offers graduate courses in modern Southeast Asian history and comparative Asian history, and undergraduate courses on mainland Southeast Asian history as well as surveys of world history and Asian history.

Thứ năm, ngày 17 tháng một năm 2013

Review của bạn đọc 1


Thỉnh thoảng lại nhận được những review của bạn đọc không phải là giới nghiên cứu viết về cuốn "Có 500 năm như thế - Hình dung sự hình thành bản sắc Quảng Nam". Có bài có những ý tưởng rất bất ngờ, và cả cảm động nữa (như ở đây là hình ảnh: "lịch sử bị vón cục vòn hòn lại trong vài dòng gọn lỏn"). Định đọc một mình nhưng nghĩ lại chuyện chi không đưa lên đây cho nhiều người cùng đọc, nên từ nay có nhiêu xin đưa lên bấy nhiêu; chỉ xin được hỏi lại tác giả có muốn để tên hay không thôi. Và lần này thì tác giả bảo không, chỉ để là một bạn đọc là được rồi. Theo như một lỗi chính tả trong bài thì bạn này ở Hà Nội, và điều này rất có ý nghĩa vì cho đến nay mảng đề tài này được sự quan tâm của phía Nam nhiều hơn.
---------------------------------------------------------



Thưa bác Hồ Trung Tú, tôi vừa đọc xong cuốn “Có 500 trăm năm như thế” của bác từ tối hôm kia mà hôm nay mới có chút thời gian viết vài dòng cảm nhận. Đây là cảm nhận của một người đọc bình dân, hiểu theo nghĩa không phải là một người nghiên cứu, không phải là một trí thức, nên chỗ nào ngây ngô xin bác đừng bận tâm.
Đúng ra, nếu gặp cuốn này ở hiệu sách, chưa chắc tôi đã mua. Bởi lẽ dòng chữ “Hình dung bản sắc Quảng Nam” chắc sẽ khiến tôi nghĩ rằng, người Quảng Nam đọc thì sẽ thích thú hơn, mình chả hiểu lắm về đất QN, người QN, đọc chắc gì đã thích. Nhưng khi đọc xong cuốn sách, tôi nghĩ là tôi đã lầm. Cuốn sách đã cho tôi những kiến thức lịch sử Nam tiến, lịch sử của vương quốc Chiêm Thành rất lý thú và hữu ích, một chút kiến thức về các phương ngữ tại Việt Nam, và đặc biệt là những lập luận và kết luận logic, hữu lý và đáng tín cậy về bản sắc văn hóa, ngôn ngữ của vùng QN quê bác. Những kiến thức lịch sử, có chỗ tôi đã đọc nhưng quên thì giờ đọc lại và nhớ. Còn những kiến thức về phương ngữ thì rất mới mẻ đối với tôi. Ngoài ra, chắc chắn cuốn sách sẽ có ảnh hưởng ít nhiều đến lối tư duy của tôi và các bạn đọc khác về các vấn đề thuộc về lịch sử.

Thứ sáu, ngày 21 tháng mười hai năm 2012

Truyện ngắn của Hồ Trung Tú: Bản tin thời sự buổi trưa

Thấy tin một vụ lộn xộn trước sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội trên trang tin Anh Ba Sàm chợt nhớ lại cái truyện ngắn này, viết từ hồi 1988, ngay sau biên cố mất đảo Gạc Ma. Sau gần 25 năm, tính thời sự của nó vẫn nguyên vậy, duy chỉ truyện vẫn không đăng được ở báo nào.


Bản tin thời sự buổi trưa

Đó là con người như thế nào?
Dẫu đã có thói quen sẵn sàng đón nhận những bất ngờ lớn nhất, trung úy công an Nguyễn Đạm, trực ban phòng an ninh hôm nay, vẫn không hề chờ đợi điều cấp dưới của anh vừa thông báo: Một người đàn ông trạc ba lăm tuổi đã có dự định dùng đá ném vỡ kính cái tụ ảnh của đại sứ quán Trung Quốc. Theo lời khai đầu tiên của người đó thì ông ta làm thế là muốn tỏ thái độ trước hành động xâm lược của họ ở mấy hòn đảo ngoài khơi.
Sau khi lệnh cho đơn vị ở cơ sở đưa người đó lên gặp anh, Nguyễn Đạm cầm ống nghe điện thoại, mà đầu kia đã gác máy, và nhìn chăm chăm vào nó. Anh nhận ra anh đã không kịp hỏi thêm đôi điều cần thiết trước khi ra cái lệnh này. Anh đã hành động theo thói quen được điều khiển bởi sự ngạc nhiên, tò mò của người thường hơn là một sĩ quan công an đang làm nhiệm vụ. Cũng không hẳn chỉ có thế, anh mơ hồ nhận thấy trong hành động của mình còn có một nguyên nhân nào đó nữa?

Thứ năm, ngày 13 tháng mười hai năm 2012

Tại sao họ không thèm nói chuyện với chúng ta?

Các 4 khả năng xảy ra tận thế là : 1/Động đất, 2/Thiên thạch, 3/toàn bộ kho hạt nhân chạm mạch tự phát nổ và 4/người ngoài trái đất tấn công; trong đó có thể chắc chắn thiên thạch là không thể vì sự quan sát bầu trời là chặt chẽ, khó có bất ngờ và khả năng thứ tư, sự tấn công của nền văn minh ngoài trái đất. Lý do thì xin đọc lại bài này, đã 20 năm rồi nhưng bài như thế này cũng nên thỉnh thoảng tái bản :)


















TẠI SAO HỌ KHÔNG THÈM NÓI CHUYỆN VỚI CHÚNG TA?

Những câu chuyện về đĩa bay và người ngoài trái đất ghé thăm trái đất là có thật hay không ? Đó là một câu hỏi không chỉ của những người bình thường như chúng ta vẫn muốn được biết câu trả lời mà ngay cả các nhà khoa học, các trung tâm nghiên cứu vũ trụ của thế giới cũng đang thường trực đêm ngày, không bỏ sót một giây, để đón nhận bất cứ một tín hiệu dù nhỏ nào của họ. Đã tốn rất nhiều tiền tỷ cho chuyện này nhưng có thể nói cho đến bây giờ vẫn bặt vô âm tín !

     Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng đã có những câu thơ rất hay mô tả sự mong ước đến mức khắc khoải ấy :
"... Những con người ở thiên thể xa xôi.
Muốn bầu bạn với con người trái đất.
Ôi phút đó ta vùng lên ngây ngất.
Muốn ôm choàng hết tất cả trời mây..." .


Thứ năm, ngày 22 tháng mười một năm 2012

Ở đâu cần cờ lau tập trận đánh giặc lưỡi bò, Đà Nẵng xin cung cấp !

Đà Nẵng mùa này lau trắng mênh mông. Đất dự án đô thị khắp nơi, đường ngang lối dọc vuông vức nhưng chẳng ai ở, người mua như đầu tư của để dành, chẳng biết đến bao giờ nhà mới lấp kín. Lau lấp kín vậy. Có bạn trẻ cầm cả nắm lau vừa chạy xe vừa rung, hoa lau trắng xóa bay lơ lửng khắp trời...
Ở đâu cần cờ lau tập trận đánh giặc lưỡi bò, Đà Nẵng xin cung cấp miễn phí tận nơi :)

Thứ tư, ngày 21 tháng mười một năm 2012

Rứa mới là Quảng Nam !

Ông Trần Anh Tuấn nói: “Hôm nay huyện nêu quan điểm khẳng định: Nếu các sở, ban, ngành của tỉnh lên khảo sát, kiểm tra tình hình của người dân thì huyện sẽ tiếp, còn các đoàn của Bộ, ngành T.Ư vào, huyện không tiếp. Vì trong thời gian qua, mỗi lần động đất mạnh thì các đoàn này, đoàn nọ vào nhưng chẳng giải quyết được vấn đề gì, động đất thì càng ngày càng mạnh. Từ nay thời gian đó huyện sẽ dành giải quyết công việc của địa phương”!
http://www.cadn.com.vn/News/Chinh-Tri-Xa-Hoi/Thoi-Su/2012/11/21/88052.ca

Thứ hai, ngày 19 tháng mười một năm 2012

Để Thủ tướng lấy lại lòng yêu mến của nhân dân.


Xét cho cùng, lúc này, không gì dễ bằng chuyện Thủ tướng lấy lại lòng yêu mến của nhân dân. Chỉ cần thả ngay Đoàn Văn Vươn, giải quyết dứt điểm vụ Tiên Lãng, Văn Giang, bắt ra toà vài thằng quan địa phương ăn dự án, vài nhà đầu tư bất động sản, thủy điện tham lam, giải tán chính phủ, lập dàn bộ trưởng khác, công khai số nợ và hướng giải quyết Vinashin, Vinaline... Chuyện dễ không gì bằng. Thật !

Thứ bảy, ngày 17 tháng mười một năm 2012

Nhóm lợi ích - Thống đốc không biết hay giả lơ, nói lảng.


 
Xem phiên chất vấn của Quốc hội với Chính phủ thấy nhiều đại biểu đặt câu hỏi nhấn mạnh đến “lợi ích nhóm” với một thái độ khá quyết liệt, căng thẳng như buộc người trả lời phải đề cập đến một chuyện gì đó không minh bạch, khuất tất. Thế nhưng đến khi Thống đốc trả về thế nào là lợi ích nhóm thì tất cả chưng hửng, mọi căng thẳng như rơi tỏm xuống cái hố ngơ ngác, không một tiếng vọng nào: Trả lời câu hỏi của một số đại biểu có hay không lợi ích nhóm trong hoạt động các ngân hàng thương mại, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình thừa nhận: “Tôi khẳng định luôn có lợi ích nhóm trong một số lĩnh vực nhất định. Cả một ngân hàng chỉ phụ thuộc vào quyết định của một vài ông, kiểm soát hết hoạt động thì các khách hàng thân quen được hưởng lợi ích. Lợi ích nhóm là đó chứ đâu ! Chúng tôi đã đề nghị các bên phải xử lý bằng tài chính, nếu nghiêm trọng thì tái cấu trúc, có dấu hiệu hình sự chuyển sang cơ quan điều tra”.

Trời đất ! Như vậy là lợi ích cục bộ, lợi ích cá nhân, là lợi dụng chức quyền chứ sao gọi đó là lợi ích nhóm được?

Thứ năm, ngày 08 tháng mười một năm 2012

Dấu vết của những cuộc dịch chuyển tộc người

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Phong-su-Ky-su/519431/Dau-vet-cua-nhung-cuoc-dich-chuyen-toc-nguoi.html
----

TT - Lý giải về hiện tượng những đảo thổ ngữ lạ giữa một cộng đồng có giọng nói phổ thông, nhiều người thường lý giải là do nước uống, do thổ nhưỡng, do môi trường khắc nghiệt, vùng đầu sóng ngọn gió, ăn to nói lớn...
Một số lý giải khác, như trường hợp làng Mỹ Lợi, thì cho rằng người Quảng đã ra Huế định cư và bảo lưu giọng Quảng của mình suốt 4-5 trăm năm nay (những họ lâu đời nhất ở Mỹ Lợi có gia phả đều đã 16-17 đời). Thế nhưng, rõ ràng những cách trả lời này mang nhiều kiến giải của dân gian hơn là khoa học. Trong khi khoa học, tức các nhà ngôn ngữ trên thế giới, đã lý giải hiện tượng này một cách đầy đủ và khá sâu sắc.
Cuốn sách đoạt giải thưởng Sách hay 2012 của tác giả Hồ Trung Tú